Xã Nhân Nghĩa

 
STT
Tên thủ tục hành chính

1

Giải quyết kiến nghị về kết quả lựa chọn nhà thầu

Giải quyết kiến nghị về các vấn đề liên quan trong quá trình lựa chọn nhà thầu

Xác nhận hoạt động dịch vụ bảo vệ thực vật

Thủ tục thông báo nhận chăm sóc thay thế cho trẻ em đối với cá nhân, người đại diện gia đình nhận chăm sóc thay thế là người thân thích của trẻ em.

Thủ tục đăng ký nhận chăm sóc thay thế cho trẻ em đối với cá nhân, người đại diện gia đình nhận chăm sóc thay thế không phải là người thân thích của trẻ em.

6

Thủ tục phê duyệt kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Thủ tục Công nhận hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo trong năm

Thủ tục Công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo phát sinh trong năm.

Thủ tục giải thể nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập (theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân đề nghị thành lập).

10 

Thủ tục sáp nhập, chia, tách nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập

11 

Thành lập nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập

12 

Thủ tục cho phép cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học

13

Thủ tục cho phép nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập hoạt động giáo dục trở lại

14

Thủ tục xét tặng danh hiệu Lao động tiên tiến

15 

Thủ tục xét tặng danh hiệu Gia đình văn hóa

16 

Thủ tục tặng Giấy khen của Chủ tịch UBND cấp xã về thành tích đột xuất

17 

Thủ tục tặng Giấy khen của Chủ tịch UBNB cấp xã về thành tích thi đua theo đợt hoặc chuyên đề

18 

Thủ tục tặng Giấy khen của Chủ tịch UBND cấp xã về thực hiện nhiệm vụ chính trị

19 

Thủ tục chấp thuận việc tổ chức quyên góp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong phạm vi một xã

20 

Thủ tục đăng ký người vào tu

21 

Thủ tục đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo hàng năm của tổ chức tôn giáo cơ sở

22 

Thủ tục đăng ký sinh hoạt tôn giáo

23 

Thủ tục thông báo dự kiến hoạt động tín ngưỡng diễn ra vào năm sau tại cơ sở tín ngưỡng

24 

Thủ tục thông báo người đại diện hoặc Ban quản lý cơ sở tín ngưỡng

25 

Thủ tục cấp giấy chứng sinh cho trường hợp trẻ được sinh ra tại nhà hoặc tại nơi khác mà không phải là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

26 

Thủ tục chứng thực văn bản khai nhận di sản mà di sản là động sản, quyền sửa dụng đất, nhà ở

27 

Thủ tục chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản mà di sản là động sản, quyền sử dụng đất, nhà ở

28 

Thủ tục chứng thực văn bản từ chối nhận di sản

29 

Thủ tục chứng thực di chúc

30 

Thủ tục chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản, quyền sử dụng đất và nhà ở

31 

Thủ tục cấp bản sao có chứng thực từ bản chính hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực

32 

Thủ tục sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch

33 

Thủ tục chứng thực việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch

34 

Thủ tục chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản (áp dụng cho cả trường hợp chứng thực điểm chỉ và trường hợp người yêu cầu chứng thực không thể ký, không thể điểm chỉ được)

35 

Thủ tục chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản do cơ quan tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận

36 

Thủ tục cấp bản sao từ sổ gốc

37 

Thủ tục Đề nghị gia hạn cấp phép sử dụng lòng đường, hè phố trong khu vực đô thị không vì mục đích giao thông trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

38 

Thủ tục Cấp phép sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố trong khu vực đô thị không vì mục đích giao thông trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

39 

Thủ tục ủy quyền hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi

40 

Thủ tục xác nhận vào đơn đề nghị di chuyển hài cốt liệt sĩ; đơn đề nghị thăm viếng mộ liệt sĩ

41 

Thủ tục Trợ giúp xã hội đột xuất về hỗ trợ chi phí mai táng.

42 

Thủ tục Trợ giúp xã hội đột xuất về hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở.

43 

Thủ tục Đổi, cấp lại Giấy xác nhận khuyết tật Trong trường hợp: - Giấy xác nhận khuyết tật hư hỏng không sử dụng được - Trẻ khuyết tật từ đủ 6 tuổi trở lên - Mất Giấy xác nhận khuyết tật

44 

Thủ tục Xác định, xác định lại mức độ khuyết tật và cấp Giấy xác nhận khuyết tật

45 

Thủ tục Miễn chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng.

46 

Thủ tục Hoãn chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng.

47 

Thủ tục Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại cộng đồng.

48 

Thủ tục Quyết định quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình.

49 

Thủ tục Thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng khi đối tượng thay đổi nơi cư trú trong cùng địa bàn huyện, thành phố.

50 

Thủ tục Hỗ trợ học văn hóa, học nghề, trợ cấp khó khăn ban đầu cho nạn nhân.

52 

Thủ tục hỗ trợ, di chuyển hài cốt liệt sĩ.

53 

Thủ tục thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo đối với người có công với cách mạng và con của họ.

545 

Thủ tục lập Sổ theo dõi và cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình.

55 

Thủ tục đính chính thông tin trên bia mộ liệt sĩ.

56 

Thủ tục bổ sung tình hình thân nhân trong hồ sơ liệt sĩ.

57 

Thủ tục mua bảo hiểm y tế đối với người có công và thân nhân.

58 

Thủ tục thực hiện chế độ trợ cấp một lần đối với thân nhân người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, người có công giúp đỡ cách mạng đã chết.

59 

Thủ tục giám định lại thương tật do vết thương cũ tái phát và điều chỉnh chế độ.

60 

Thủ tục giải quyết chế độ ưu đãi đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

61 

Thủ tục giải quyết chế độ trợ cấp thờ cúng liệt sĩ.

62 

Thủ tục di chuyển hồ sơ người có công với cách mạng.

63 

Thủ tục sửa đổi thông tin cá nhân trong hồ sơ người có công.

64 

Thủ tục giải quyết chế độ người có công giúp đỡ cách mạng.

65 

Thủ tục giải quyết chế độ người HĐKC giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.

66 

Thủ tục giải quyết chế độ người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày.

67 

Thủ tục giải quyết hưởng chế độ ưu đãi đối với con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

68 

Thủ tục giải quyết hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

69 

Thủ tục giải quyết chế độ đối với thương binh đồng thời là bệnh binh.

70 

Thủ tục giải quyết chế độ đối với thương binh và người hưởng chính sách như thương binh.

71 

Thủ tục giải quyết chế độ đối với Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến.

72 

Thủ tục giải quyết chế độ trợ cấp đối với vợ hoặc chồng liệt sĩ đi lấy chồng hoặc vợ khác.

73 

Thủ tục giải quyết chế độ đối ưu đãi với thân nhân liệt sĩ.

74 

Thủ tục hưởng lại chế độ ưu đãi đối với người có công hoặc thân nhân trong trường hợp: + Bị tạm đình chỉ chế độ do bị kết án tù đã chấp hành xong hình phạt tù. + Bị tạm đình chỉ do xuất cảnh trái phép nay trở về nước cư trú. + Đã đi khỏi địa phương nhưng không làm thủ tục di chuyển hồ sơ nay quay lại đề nghị tiếp tục hưởng chế độ. + Bị tạm đình chỉ chế độ chờ xác minh của cơ quan điều tra.

75 

Thủ tục giải quyết trợ cấp tiền tuất hàng tháng khi người có công từ trần.

76 

Thủ tục hưởng mai táng phí, trợ cấp một lần khi người có công với cách mạng từ trần

77 

Thủ tục Đưa đối tượng ra khỏi cơ sở trợ giúp trẻ em.

78 

Thủ tục Tiếp nhận đối tượng là người chưa thành niên không có nơi cư trú ổn định bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn vào cơ sở trợ giúp trẻ em.

79 

Thủ tục Ghi chú việc nuôi con nuôi đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng

80 

Thủ tục Đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế

81 

Thủ tục Đăng ký lại việc nuôi con nuôi trong nước

82 

Thủ tục Đăng ký nuôi con nuôi trong nước

83 

Thủ tục giải quyết khiếu nại về bồi thường nhà nước lần đầu trong hoạt động quản lý hành chính

84 

Thủ tục chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính

85 

Thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính

86

Thủ tục chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính

 

Tiếng "thiêng” đồn xa, cùng với phong cảnh non nước hữu tình, sản vật núi rừng phong phú, quần thể di tích đền Thác Bờ (xã Thung Nai, huyện Cao Phong và xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc) đã trở thành điểm đến du xuân của du khách thập phương. Khai hội từ ngày mồng 4 Tết nhưng đến nay, lượng khách đổ về đền Thác Bờ chưa có dấu hiệu sụt giảm, thậm chí còn tăng vọt vào những ngày cuối tuần. Song thực tế là cơ sở hạ tầng và công tác quản lý chưa được như mong đợi của đông đảo du khách.


Vị trí địa lý

Địch Giáo là xã Miền núi thuộc huyện Tân Lạc, cách huyện lỵ khoảng 10 km về phía Tây.

Phía Bắc, Tây bắc giáp xã Phú Cường;

Phía Đông bắc, Đông giáp xã Phong Phú, xã Tuân Lộ;

Phía Nam, Đông nam giáp xã Quy Mỹ

Phía Tây, tây nam giáp xã Quyết Chiến

Tổng dân số là 3769 người, dân cư phân bố thành 14 xóm. Tổng diện tích đất tự nhiên là 1.209,68 ha.

Điều kiện tự nhiên

                        1. Địa hình:

Về địa hình xã có độ cao trung bình so với mặt nư­ớc biển là 300 mét, vị trí cao nhất của xã cao tới trên 850 m. Địa hình của xã có thể phân thành 3 dạng địa hình chính và thấp dần từ Tây bắc xuống Đông nam.

Địa hình núi đá chiếm khoảng 17% diện tích tự nhiên của xã nằm chủ yếu ở phía Tây và phía Nam.

Địa hình núi đất chiếm khoảng 50% diện tích tự nhiên của xã nằm chủ yếu ở phía Bắc và tiếp giáp với núi đá ở phía Tây.

Địa hình thung lũng chiếm khoảng 33% diện tích tự nhiên của xã nằm chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam. Ở giữa địa hình thung lũng có suối Kem chảy qua rất thuận lợi cho việc lấy nước để canh tác 2 vụ lúa.

Nhìn chung địa hình của xã rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp với việc phát triển đa dạng cây trồng và các hình thức nông nghiệp khác.

                        2. Khí hậu:

Khí hậu xã Địch Giáo mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

            - Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.833mm, phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 thường tập trung tới 85% lượng mưa trong năm). Mùa khô lượng mưa không đáng kể nên thường bị khô hạn.

- Nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27 - 28oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17- 19oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 10oC.

- Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1556 giờ. Số giờ nắng trung bình về mùa hè là 7giờ/ ngày, mùa đồng là 5 giờ/ ngày. Lượng bốc hơi trung bình là 910mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình trong năm khoảng 82%, hai h­ướng gió thịnh hành là gió Tây Nam (vào mùa hè) và gió Đông Bắc (vào mùa đông).

- Sương mù thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 năm sau.

                3. Thủy văn

Suối Kem là một trong con suối lớn trong khu vực, bắt nguồn từ xã Phú Cường, Phú Vinh chảy theo hướng Tây Bắc, Đông Nam, đi qua địa bàn xã có chiều dài 6,62 km, từ con suối chính này có nhiều nhánh nhỏ cung cấp nước cho đời sống, sinh hoạt và sản xuất.

Ngoài ra trên địa bàn có một số ao, hồ nhỏ nằm rải rác ở các xóm.

                        4. Các nguồn tài nguyên

            -Tài nguyên đất: Hiện nay xã chưa có bản đồ thổ nhưỡng, các loại đất chính của xã được xác định trên bản đồ nông hóa thổ nhưỡng của huyện Tân Lạc tỷ lệ 1/50.000, gồm các loại đất chính sau:

            + Đất đồi núi biến đổi do trồng lúa nước (ký hiệu: FL), thành phần cơ giới thịt nhẹ, thích hợp trồng lúa nước.

            + Đất vàng đỏ trên đá sét (ký hiệu Fs): Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 250, tầng đất dày hoặc trung bình. Đất thích hợp khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng mới.

            + Đất vàng nhạt trên sa thạch (ký hiệu Fq). Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 200, tầng đất trung bình. Đất thích hợp cho phát triển lâm nghiệp.

            -Tài nguyên rừng: Đất rừng tự nhiên có diện tích 79 ha, chủ yếu là rừng khoanh nuôi tái sinh, đất rừng trồng có diện tích: 264 ha. Khu rừng khoanh nuôi tái sinh còn một số ít loại cây thân gỗ to. Động vật rừng hầu như không có.

            -Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện thấy có loại tài nguyên khoáng sản có giá trị kinh tế nào.

            -Tài nguyên nhân văn: Xã Địch Giáo là cái nôi của trung tâm văn hóa khu vực Mường Bi, có trên 95% dân số là dân tộc Mường, do vậy phong tục tập quán của nhân dân trong xã mang đậm bản sắc văn hóa Mường, hàng năm cùng với các xã khác trong huyện các hoạt động văn hóa truyền thống được tổ chức nhằm giữ gìn, khơi dậy và phát triển bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình.


1. Vị trí địa lý

Do Nhân là một xã miền núi của huyện Tân Lạc,tỉnh Hoà Bình cách trung tâmhuyện 18 km về phía Tây, địa giới hành chính của xã như sau:

- Phía Bắc giáp xã Qui Mỹ

- Phía Nam giáp xã Lỗ Sơn

- Phía Tây giáp xã Quyết chiến

- Phía Đông giáp xã Mãn Đức

Xã Do Nhân có 8 xóm với tổng số 511 hộ và 2.279 nhân khẩu, gồm có 3 dân tộc cùng sinh sống, trong đó:

+ Dân tộc Kinh:                 7 ng­ười, chiếm 0,31%

+ Dân tộc Mường:  2.271 ng­ười, chiếm 99,65%

+ Dân tộc Thái:                  1 ngư­ời, chiếm 0,04%

 Hiện tại số lao động trong độ tuổi của xã là 1.692 ngư­ời, chiếm 74,24% dân số, trong đó lao động nam chiếm 49,82%, lao động nữ chiếm 50,18%. Lao động trong xã chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp với 1.653 người, chiếm 97,7% tổng số lao động.

2. Địa hình

Là xã miền núi, Do Nhân có địa hình tương đối phức tạp, không bằng phẳng, thấp dần từ Đông sang Tây, gây khó khăn cho sự đi lại của nhân dân. Phía Đông Bắc là vùng đồi nhấp nhô, phía Tây Nam là núi đá. Nhìn chung địa hình của xã có ảnh hưởng không tốt cho giao thông và gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.

3. Khí hậu thời tiết

Khí hậu của Do Nhân thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh khô, ít mưa và mùa hè nóng ẩm mưa nhiều.

Nhiệt độ bình quân các năm dao động từ 21,80C đến 24,70C. Trong năm tháng nóng nhất vào tháng 6 từ 270C đến 29,70C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 từ 15,50C - 16,50C.

Lượng mưa trung bình của xã khá cao từ 1800 - 2200 mm. Lượng mưa tập trung nhiều nhất vào các tháng 6,7,8,9 chiếm 80% lượng mưa cả năm. Từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau lượng mưa giảm rõ rệt, trung bình chỉ còn 12,3 mm. Bình quân số ngày mưa cả năm là từ 110 - 120 ngày.

- Độ ẩm không khí từ 60 - 90%, trung bình của 10 năm gần đây dao động từ 84 - 86%, mùa khô độ ẩm xuống thấp 59 - 70% vào những tháng 1, tháng 2 và những tháng 8, tháng 9 có độ ẩm cao từ 87 - 90%.

- Số giờ nắng trong năm bình quân trong 10 năm gần đây là từ 1400 - 1900 giờ nắng với tổng tích ôn 88660C. Lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 1066 mm, năm cao nhất là 1151 mm và thấp nhất là 987 mm.

- Gió thịnh hành theo hai hướng Đông Nam và Tây Bắc, ngoài ra Do Nhân còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô và nóng ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất nông lâm nghiệp.

Nhìn toàn cục khí hậu của Do Nhân tương đối thuận lợi cho sự phát triển nền nông nghiệp đa dạng với nhiều mô hình canh tác khác nhau.

4. Các nguồn tài nguyên :

Tài nguyên nước

Nguồn nước của Do Nhân được cung cấp chủ yếu từ sông, suối cùng một số khe suối, ao hồ nhỏ phân bổ rải rác. Về cơ bản vẫn đảm bảo đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân.

Về nguồn nước ngầm: Nhìn người dân trong xã chưa sử dụng, chưa có đánh giá cụ thể về nguồn nước ngầm. Tuy nhiên đây là vùng thấp nên mực nước ngầm rất sâu, chất lượng tốt do không gần các nguồn ô nhiễm.

Tài nguyên đất

Theo số liệu kiểm kê năm 2010 cho thấy: Do Nhân có tổng diện tích đất tự nhiên là 1761.67 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 1580.86 ha chiếm 89.74% diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp 1225.16ha chiếm 69.55% , đất chuyên dùng 72.46 ha chiếm 4.11%, đất ở 19.15 ha chiếm 1.09%, đất chưa sử dụng 38.88 ha chiếm 2.21% so với tổng diện tích đất tự nhiên. Đất đai của xã Do Nhân bao gồm các loại chính sau:

- Đất nâu đỏ trên đá mác ma, bazơ và trung tính tập trung ở phía Bắc.

- Đất nâu đỏ trên đá vôi 568 ha chiếm 25%.

- Đất vàng nhạt trên đá sa thạch 113 ha chiếm 5%.

- Đất vàng đỏ trên đá sét 181 ha chiếm 8% và một số loại đất khác.

Nhìn chung đất đai của xã thích hợp với nhiều loại cây trồng như lúa, hoa màu, các loại cây ăn quả và cây công nghiệp như nhãn, vải, mía ( Nguyên liệu cung cấp cho nhà máy đường Hoà Bình)

Tài nguyên rừng

Do Nhân có tiềm năng tài nguyên rừng rất lớn. Hiện tại diện tích đất lâm nghiệp của xã  là 1225.16 ha chiếm 69.55% tổng diện tích tự nhiên. Trong những năm gần đây nhân dân trong xã tích cực khai thác đất chưa sử dụng vào trồng rừng sản xuất đưa diện tích đất chưa sử dụng xuống còn 33,88 ha (năm 2001 diện tích đất chưa sử dụng là 274,57 ha). Diện tích rừng của xã chủ yếu là rừng tự nhiên với các loại gỗ quý như trai, nghiến, trò chỉ...

Trong mấy năm gần đây được sự quan tâm của các cấp chính quyền cùng với ý thức bảo vệ của người dân trong xã đã làm cho diện tích rừng ngày càng tăng, đóng góp nâng cao nguồn thu nhập cho người dân trong xã.

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện chưa phát hiện được loại khoáng sản nào có giá trị kinh tế cao ngoài đá xây dựng.

Tài nguyên nhân văn

Là xã miền núi, phần lớn dân số là người dân tộc, trong đó 99,86% dân số là dân tộc Mường nên Do Nhân có một nền văn hoá tương đối lâu đời với nhiều truyền thống văn hoá và phong tục tập quán. Đây là điều chính quyền xã cần quan tâm để truyền thống văn hoá, bản sắc dân tộc ngày càng được phát huy góp phần cùng sự phát triển chung của toàn xã.

 Cảnh quan môi trường

Cảnh quan thiên nhiên và môi trường sống của xã Do Nhân mang đậm nét thôn quê miền núi với các dãy núi, khu rừng, cánh đồng, khe suối xen kẽ nhau tạo nên cảnh quan đẹp phong phú và đa dạng.

 Tuy nhiên trong những năm trước đây diện tích rừng giảm nhanh cũng làm ảnh hưởng xấu tới môi trường. Đất đai thời gian vừa qua do tác động của dòng chảy nên bị xói mòn khá nhanh, đây là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng đất đai bị trơ sỏi đá.


1. Vị trí địa lý

Đông Lai là xã vùng thấp của huyện Tân Lạc, nằm về phía Đông - Nam huyện và cách thị trấn huyện khoảng 10 km theo quốc lộ 12B. Ranh giới của xã như sau:

- Phía Bắc giáp xã Yên Thượng huyện Cao Phong.

- Phía Đông giáp xã Ngọc Mỹ huyện Tân Lạc..

- Phía Nam giáp xã Phú Ty, Phú Lương, Lạc Sơn.

- Phía Tây giáp xã Gia Mô và Thanh Hối huyện Tân lạc.

Xã Đông Lai có tổng diện tích tự nhiên 2.333,07 ha và được chia thành 16 thôn, xóm. Dân số của xã gồm 1.399 hộ và 6.073 khẩu. Xã có quốc lộ 12B chạy qua nối xã với trung tâm huyện và với bên ngoài rất thuận lợi cho việc giao lưu.

2. Địa hình:

Xã Đông Lai nằm trong vùng có địa hình đồi núi thấp với địa hình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bới các khe suối và đồi núi cao, xen kẽ là các dãy núi đá vôi. Địa hình của xã có thế chia thành 2 dạng địa hình chính:

- Địa hình đồi núi dốc và cao: Tập trung chủ yếu ở phía Đông Băc và Tây Nam của xã. Dạng địa hình này tương đối dốc, hiện trong vùng là rừng sản xuất của dân địa phương.

- Địa hình thung lũng bằng phẳng: Phân bố chủ yếu ở khu vực trung tâm xã dọc hai bên quốc lộ 12B. Dạng địa hình này tương đối bằng phẳng và là vùng sản xuất chính của người dân để trồng lúa và các loại cây hàng năm, lâu năm khác. Đây cũng là vùng tập trung dân cư và sản xuất chính của xã.

Nhìn chung địa hình của xã rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp với việc phỏt triển đa dạng cõy trồng và cỏc hỡnh thức nụng nghiệp khỏc.

3. Khí hậu:

Khí hậu xã Đông Lai mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

- Nhiệt độ trung bình năm từ 26 - 30oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27 - 29oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17- 19oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 10oC.

- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.750mm, phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 thường tập trung tới 85% lượng mưa trong năm). Mùa khô lượng mưa không đáng kể nên thường bị khô hạn. Tổng số ngày mưa trong năm khoảng 120 ngày, tập trung vào từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm.

- Lượng bốc hơi bình quân hàng năm khoảng 500-700 mm. Năm cao là 850 mm và năm thấp là 450 mm.

- Độ ẩm không khí bình quân trong năm là 82%, tháng cao nhất 99%, tháng thấp nhất 69%.

- Sương mù thường xuất hiện vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Tập trung nhiều vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Số ngày có sương mù hàng năm khoảng 38 ngày.

- Sương muối thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 hàng năm. Trung bình mỗi năm có 1,3 ngày xuất hiện sương muối, năm cao nhất có 6 ngày.

- Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1700 giờ. Số giờ nắng trung bình về mùa hè là 7giờ/ ngày, mùa đồng là 5 giờ/ ngày.

- Hướng gió thịnh hàng về mùa hè là tây nam, về mùa đông là đông bắc. Đôi khi có gió nóng (gió tây) nhưng mức độ không cao.

4. Thủy văn:

Nhìn chung hệ thống khe suối trong xã đáp ứng được các nhu cầu về sản xuất và sinh hoạt. Tuy nhiên do địa hình dốc nên về mùa khô thường gặp khó khăn trong việc cấp nước.

5. Tài nguyên

Tài nguyên đất:

Đông Lai có các loại đất chính sau:

- Đất nâu đỏ trên đá mác ma bazơ và trung tính: Diện tích 1022 (chiếm 45% tổng diện tích tự nhiên), tập trung chủ yếu ở phía đông bắc xã.

- Đất nâu đỏ trên đá vôi: Diện tích 586 ha (chiếm 25% tổng diện tích tự nhiên).

- Đất vàng nhạt trên đá sa thạch: Diện tích 113 ha (chiếm 5% tổng diện tích tự nhiên)

- Đất vàng đỏ trên đá sét: Diện tích 181 ha (chiếm 8% tổng diện tích tự nhiên)

- Đất feralit biến đổi do trồng lúa nước: Diện tích 205 ha (chiếm 9% tổng diện tích tự nhiên)

- Các loại đất khác: Diện tích 181 ha (chiếm 8% tổng diện tích tự nhiên)

Nhìn chung các loại đất của xã Đông Lai phần lớn là các loại đất tốt, có độ dày tương đối lớn, phù hợp với nhiều loại cây trồng. Ngoài lúa và một số loại hoa màu, hiện nay người dân địa phương đã trồng các loại cây cho hiệu quả kinh tế cao như các loại cây ăn quả, mía ....

Tài nguyên rừng

Rừng của xã Đông Lai chiếm diện tích khá lớn so với tổng diện tích tự nhiên (66%), trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rừng sản xuất chiếm tỷ lệ nhỏ. Thảm thực vật rừng của xã đa dạng gồm nhiều chủng loại cây nhiệt đới. Rừng sản xuất của xã với các loại cây chủ yếu như keo, bạch đàn,

 Khoáng sản

Trên địa bàn xã Đông Lai có nhiều núi đá vôi là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho xây dựng, thuận tiện cho việc khai thác và vận chuyển.

Sản xuất công nghiệp hiện chưa phát triển, nhưng trong tương lai hứa hẹn nhiều tiềm năng trong việc khai thác vật liệu, phát triển công nghiệp chế biến.


   1. Vị trí địa lý

Lỗ Sơn nằm trên trục đường tỉnh lộ 436, cách trung tâm huyện Tân Lạc khoảng 20 km. Xã có tổng diện tích tự nhiên là 1671,73 ha . Ranh giới hành chính của xã được xác định như sau:

Phía Bắc giáp xã Tử Nê và xã Thanh Hối.

Phía Nam giáp xã Ngổ Luông.

Phía Đông giáp xã Gia Mô.

Phía Tây giáp xã Do Nhân.

Dân cư của xã Lỗ Sơn hiện được bố trí tại 12 xóm với tổng số 732 hộ và 3.185 nhân khẩu, gồm có 3 dân tộc cùng sinh sống, trong đó:

- Dân tộc Kinh:                234 ng­ười, chiếm 7,35%

- Dân tộc Mường:       2.853 ng­ười, chiếm 89,58%

- Dân tộc Thái:                   98 ngư­ời, chiếm 3,08%

2. Địa hình

Lỗ Sơn là xã vùng sâu của huyện Tân Lạc có địa hình phức tạp, đồi núi  xen kẽ, chia cắt bởi các con suối. Độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng 220 đến 250m, nơi cao nhất là 458m. Địa hình xã cao ở phía Đông Bắc, tạo ra các cánh đồng bằng phẳng ở phía Tây.

3. Khí hậu thời tiết

- Nằm trong miền khí hậu chung nhiệt đới, á nhiệt đới gió mùa. Một năm chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

- Nhiệt độ không khí bình quân năm là 23oC, nhiệt độ thấp nhất trung bình là 12,7oC, vào các tháng 12 và tháng 1, 2 năm sau. Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là tháng 7 trên 33,2oC.

- Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.555 giờ, năm cao nhất là 1.700 giờ, năm thấp nhất là 1.460 giờ.

- Lượng mưa bình quân năm là 1.833 mm, năm cao nhất là 2.850mm, năm thấp nhất 1.210mm. Lượng mưa phân bố trong năm không đều, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 85,2% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ  tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ có 271,2 mm, tháng mưa ít nhất là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 chỉ có 6,3 - 9,4 mm.

- Lượng bốc hơi bình quân năm là 50,2% so với lượng mưa. Lượng bốc hơi tập trung vào các tháng có lượng mưa ít, nên mùa khô đã thiếu nước lại càng thiếu trầm trọng, ảnh hưởng xấu đến cây trồng vụ đông xuân.

- Độ ẩm không khí trung bình là 82,5%, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 75 đến 86%. Các tháng cuối mùa khô tuy lượng mưa thấp nhưng do có sương mù nên độ ẩm không khí vẫn khá cao, rất thuận lợi cho gieo trồng cây trồng cạn.

- Gió: Hướng gió thịnh hành về mùa khô là gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Các tháng còn lại trong năm là gió nam, gió tây nam và gió đông nam.

- Sương muối thường xuất hiện vào các tháng 12 và tháng 1 năm sau cùng với các yếu tố khí hậu thời tiết bất lợi khác đã ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây trồng.

4. Các nguồn tài nguyên:

Tài nguyên nước

Trên địa bàn xã có các con suối chính như: Suối Cái, suối Lùng và suối Bụi và các con suối nhỏ với tổng chiều dài 18,35 km nên nguồn nước ở Lỗ Sơn khá dồi dào, tuy nhiên do cấu tạo địa chất cộng với địa hình cao dốc nên khảng năng giữ nước vào mùa khô rất khó. Nếu được đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi sẽ phát huy hiệu quả cao hơn việc sử dụng nguồn lợi này để phụ vụ vào sản suất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, bảo vệ môi trường và phòng chống lụt bão.

Tài nguyên đất

Hiện nay xã Lỗ Sơn chưa lập được bản đồ nông hóa thổ nhưỡng. Theo tài liệu lưu trữ của địa phương và kết quả điều tra bổ sung, trên địa bàn xã có các loại đất chính sau:

- Đất đỏ nâu  trên đá vôi (ký hiệu Fv): Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 20o, tầng đất dày hoặc trung bình. Đất thích hợp trồng cây công nghiệp, cây lâu năm, trồng rừng.

- Đất đỏ vàng nhạt trên đá phiến sét (ký hiệu Fs): Diện tích 916 ha, chiếm 36,16% diện tích tự nhiên.

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (ký hiệu Fl): Thành phần cơ giới thịt nhẹ, đất thích hợp trồng lúa nước.

- Đất đỏ vàng trên đá sét (ký hiệu Fs): Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 250, tầng đất dày hoặc trung bình. Đất thích hợp khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng mới.

- Đất vàng nhạt trên đá cát (ký hiệu Fq): Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 200, tầng đất trung bình. Đất thích hợp cho phát triển lâm nghiệp.

Tài nguyên rừng

Toàn xã có 1120,39 ha rừng, chiếm 67,02% diện tích tự nhiên, trong đó có 601,23 ha rừng sản xuất và 519,16 ha rừng phòng. Rừng nguyên sinh còn ít, chủ yếu là các loại gỗ dổi, keo, bạch đàn, mít, de..., động vật rừng chỉ còn các loại nhỏ như chồn, cầy, cáo...

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã ngoài nguồn đá xây dựng, đã phát hiện được một mỏ than bùn, nhưng chưa xác định được trữ lượng, trong thời gian tới có thể khảo sát và tiến hành khai thác.

Tài nguyên nhân văn

Phong tục tập quán của nhân dân trong xã mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc Mường với nhiều nét dẹp truyền thống được thể hiện qua sự sinh hoạt hàng ngày của người dân trong xã:

- Văn hóa vật chất: Đó là sự thể hiện ở nhà cửa, vùng quần cư, y phục, ăn uống, tư liệu sản xuất và tập quán canh tác.

- Văn hóa xã hội: Thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc ở Lỗ Sơn không tách khỏi những nét đặc trưng cơ bản của các dân tộc vùng Hòa Bình nói chung, đó là thiết chế xóm bản của người Mường.

- Văn hóa tinh thần: Bao gồm rất nhiều lĩnh vực cấu thành thượng tầng kiến trúc của một xã hội từ phong tục tập quán đến các hoạt động văn hóa, thể thao... Đặc biệt ở Lỗ Sơn hàng năm thường tổ chức lễ hội đánh cá đây là một nét văn hóa đặc sắc của địa phương.

Cảnh quan môi trường

Là xã miền núi có cả núi đá và núi đất và khu vực thung lũng tương đối bằng phẳng, kết hợp với tài nguyên khí hậu đã tạo cho Lỗ Sơn một cảnh quan đẹp và trong lành. Tuy nhiên do những năm gần đây do tập quán canh tác sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy trình, rác thải sinh hoạt, rác thải chăn nuôi nên phần nào ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt và môi trường sống.


1. Vị trí địa lý

Xã Lũng Vân là xã miền núi cách trung tâm huyện lỵ Tân Lạc 30 km về phía tây. Trên địa bàn xã có đường tỉnh 440 đi qua và là trung tâm giao lưu về mọi mặt của 5 xã vùng cao phía tây của huyện Tân Lạc.

Ranh giới hành chính của xã như sau:

- Phía Tây Bắc giáp xã Thung Khe, huyện Mai Châu.

- Phía Tây giáp xã Bắc Sơn, Nam Sơn.

- Phía Đông giáp xã Quyết chiến

- Phía Nam giáp xã Ngổ Luông

Với vị trí địa lý như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai ở đây chủ yếu tập trung vào sử dụng đất đai khu trung tâm xã, dân cư nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng.

Dân cư xã Lũng Vân được bố trí tại 12 xóm với tổng số 442 hộ và 2.102 nhân khẩu, gồm có 4 dân tộc cùng sinh sống, trong đó:

+ Dân tộc Kinh:                   2 ng­ười, chiếm 0,10%;

+ Dân tộc Mường:      2.093 ng­ười, chiếm 99,57%;

+ Dân tộc Thái:              5 ngư­ời, chiếm 0,24%;

+ Dân tộc Dao:                    2 ngư­ời, chiếm 0,10%.

2.Địa hình

Lũng Vân là xã có địa hình phức tạp, được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây bắc – Đông Nam, có chiều dài từ đầu xã đến cuối xã khoảng 12 km, rộng 4 km, độ cao trung bình so với mặt biển là 1.700m. Xen kẽ những dãy núi là những cánh đồng bằng phẳng và suối nhỏ hẹp. Ngoài ra còn có các dạng địa hình thung lũng, sông suối, thềm bãi bồi, nón phóng vật, sườn tích, hang động Castơ, mô sụt võng do chịu tác động mạnh của hoạt động tân kiến tạo.

I.1.3. Khí hậu thời tiết

Nằm trong nền khí hậu chung nhiệt đới, á nhiệt đới gió mùa. Một năm chia làm 2 mùa: Mùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Các chỉ tiêu khí hậu chính có các đặc trưng sau:

- Nhiệt độ không khí: Bình quân năm là 220C, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình 12,50C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là tháng 7 trên 33.20C.

- Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.690 giờ, năm thấp nhất là 1.450 giờ.

- Lượng mưa: Lượng mưa bình quân năm là 1.834,4 mm, năm cao nhất có thể tới 2.860 mm, năm thấp nhất 1.220 mm. Sự phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, trung bình 1.562,2 mm, chiếm 85,2% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ cuối tháng 10 đầu tháng 11 đến tháng 3 năm sau chỉ còn 271,2 mm, tháng mưa ít nhất trung bình trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 chỉ có 6,4 – 9,6 mm.

- Sương muối: Thường xuất hiện vào các tháng 12 năm trước và tháng 1 năm sau, xuất hiện cùng với các yếu tố khí hậu khác trong thời kỳ này làm cho cây trồng khó sinh trưởng, phát triển.

Trên địa bàn của xã không có con sông nào, có hồ Xôm và các con suối: Suối Bục, suối Bo Cá, nhờ các hệ thống phai, đập, đã cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt và cho sản xuất nông nghiệp.

3. Các nguồn tài nguyên:

Tài nguyên nước

Toàn xã có 10,03 ha đất sông suối lớn nhỏ nên nguồn nước ở Lũng Vân khá dồi dào về mùa mưa, tuy nhiên do cấu tạo địa chất cộng với địa hình cao dốc nên vào mùa khô nguồn nước khan hiếm. Vì vậy cần đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi để phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, bảo vệ môi trường và phòng chống lụt bão.

Tài nguyên đất

Hiện nay xã chưa có tài liệu về nông hoá thổ nhưỡng. Nhưng theo bản đồ nông hoá thổ nhưỡng của huyện tỷ lệ 1:50.000 thì xã gồm các loại đất chính sau:

- Đất đỏ nâu trên đá vôi (ký hiệu Fv): Phần lớn diện tích có độ dốc hơn 200, tầng đất dày hoặc trung bình. Đất thích hợp trồng cây công nghiệp, cây lâu năm, trồng rừng.

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước ( ký hiệu FL): Thành phần cơ giới thịt nhẹ, đất thích hợp trồng lúa nước.

- Đất đỏ vàng trên đá sét (ký hiệu Fs): Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 250, tầng đất dày hoặc trung bình. Đất thích hợp khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng mới.

Đánh giá chung

- Quỹ đất thích hợp phát triển nông nghiệp so với hiện trạng sử dụng đất đai năm 2000 của xã cho thấy khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp không đáng kể. Chủ yếu là bố trí lại cơ cấu cây trồng cho hợp lý, tăng cường công tác thuỷ lợi nhằm thâm canh tăng vụ.

- Quỹ đất chưa sử dụng của xã còn ít, trong quỹ đất này, khả năng mở rộng diện tích phát triển nông nghiệp rất hạn chế, chủ yếu dành cho trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc.

Tài nguyên rừng

Rừng đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong đời sống từ xưa đến nay của người dân vùng cao nói chung và người dân trong xã nói riêng. Tổng diện tích rừng toàn xã hiện có 1569,39 ha, chiếm 80,48 % diện tích đất tự nhiên, chủ yếu rừng khoanh nuôi tái sinh, rừng trồng sản xuất có 1024,37 ha, chiếm 50,34% tổng diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng phòng hộ có 545,02 ha, chiếm 26,79 % tổng diện tích đất lâm nghiệp.Tỷ lệ che phủ hiện nay đạt 49,5%, tăng nhiều so với những năm trước đây (năm 2000 là 49,5%, 2005 là 45%). Khu rừng khoanh nuôi tái sinh còn một số ít loại cây thân gỗ to như: dổi, lim, lát, de. Động vật rừng chủ yếu là các động vật nhỏ.

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện thấy có loại tài nguyên khoáng sản nào có giá trị kinh tế ngoài khai thác đá xây dựng.

Tài nguyên nhân văn

- Văn hoá vật chất: đó là sự thể hiện ở nhà cửa, vùng quần cư, y phục, ăn uống, tư liệu sản xuất và lề lối canh tác.

- Văn hoá tinh thần: Bao gồm rất nhiều lĩnh vực cấu thành từ phong tục tập quán đến văn học nghệ thuật, từ giáo dục, y tế đến tín ngưỡng, hội hè... Do Lũng Vân là khu vực quần cư mà chủ yếu là dân tộc Mường nên có nền văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc Mường. Thiết chế xã hội truyền thống của Lũng Vân cũng mang nét đặc trung cơ bản của các dân tộc vùng Hoà Bình nói chung, đó là thiết chế xóm bản của người Mường.

Cảnh quan môi trường

Cảnh quan thiên nhiên và môi trường sống của xã Lũng Vân mang đậm nét thôn quê miền núi với các dãy núi, khu rừng, cánh đồng, khe suối xen kẽ nhau tạo nên cảnh quan đẹp phong phú và đa dạng. Tuy nhiên việc chăn thả gia súc, nuôi nhốt dưới gầm nhà sàn làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân. Trong canh tác nông nghiệp sử dụng hóa chất không hợp lý cũng ảnh hưởng đến môi trường.


1. Vị trí địa lý
Mãn Đức là xã vùng thấp của huyện Tân Lạc, nằm trên trục quốc lộ 12B về phía Đông-Nam và giáp với thị trấn huyện. Ranh giới của xã như sau:
- Phía Bắc giáp thị trấn huyện Tân lạc.
- Phía Đông giáp huyện Cao Phong.
- Phía nam giáp xã Tử Nê huyện Tân Lạc.
- Phía Tây giáp xã Do Nhân và Tuân Lộ huyện Tân lạc,
Xã Mãn Đức có tổng diện tích tự nhiên 1.652,82 ha và được chia thành 12 thôn. Dân số của xã gồm 1,051 hộ và 4.253 khẩu. Xã có quốc lộ 12B chạy qua nối xã với trung tâm huyện và với bên ngoài rất thuận lợi cho việc giao lưu.
2. Điều kiện tự nhiên
Địa hình:
Xã Mãn Đức nằm trong vùng có địa hình đồi núi thấp với địa hình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bới các khe suối và đồi núi cao, xen kẽ là các dãy núi đá vôi. Địa hình của xã có thế chia thành 2 dạng địa hình chính:
- Địa hình đồi núi dốc và cao: Tập trung chủ yếu ở phía Đông Băc và Tây Nam của xã. Dạng địa hình này tương đối dốc, hiện trong vùng là rừng sản xuất của dân địa phương.
- Địa hình thung lũng bằng phẳng: Phân bố chủ yếu ở khu vực trung tâm xã dọc hai bên quốc lộ 12B. Dạng địa hình này tương đối bằng phẳng và là vùng sản xuất chính của người dân để trồng lúa và các loại cây hàng năm, lâu năm khác. Đây cũng là vùng tập trung dân cư và sản xuất chính của xã.
Nhìn chung địa hình của xã rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp với việc phát triển đa dạng cây trồng và các hình thức nông nghiệp khác. Tuy nhiên do địa hình dốc và chia cắt mạnh nên có nhiều khó khăn cho việc phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở nhất là giao thông, thuỷ lợi ….
Khí hậu:
Khí hậu xã Mãn Đức mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
- Nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27 - 28oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17- 19oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 10oC.
- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.750mm, phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 thường tập trung tới 85% lượng mưa trong năm). Mùa khô lượng mưa không đáng kể nên thường bị khô hạn. Tổng số ngày mưa trong năm khoảng 120 ngày, tập trung vào từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm.
- Lượng bốc hơi bình quân hàng năm khoảng 500-700 mm. Năm cao là 850 mm và năm thấp là 450 mm.
- Độ ẩm không khí bình quân trong năm là 82%, tháng cao nhất 99%, tháng thấp nhất 69%.
- Sương mù thường xuất hiện vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Tập trung nhiều vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Số ngày có sương mù hàng năm khoảng 38 ngày.
- Sương muối thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 hàng năm. Trung bình mỗi năm có 1,3 ngày xuất hiện sương muối, năm cao nhất có 6 ngày.
- Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1700 giờ. Số giờ nắng trung bình về mùa hè là 7giờ/ ngày, mùa đông là 5 giờ/ ngày.
- Hướng gió thiạnh hàng về mùa hè là tây nam, về mùa đông là đông bắc. Đôi khi có gió nóng (gió tây) nhưng mức độ không cao.
Thủy văn:
Hệ thống thủy văn của xã phân bố khá đều trên địa bàn, trong đó có suối Khào là suối lớn và quan trọng nhất, bắt nguồn từ xã Trung Hoà, đoạn qua xã dài khoảng 5 km. Ngoài ra trong xã còn có một số hồ chứa nước khác.
4. Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn xã Mãn Đức có nhiều núi đá vôi là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho xây dựng, thuận tiện cho việc khai thác và vận chuyển.
Sản xuất công nghiệp hiện chưa phát triển, nhưng trong tương lai hứa hẹn nhiều tiềm năng trong việc khai thác vật liệu, phát triển công nghiệp chế biến.
* Nhận xét chung về đặc điểm tự nhiên
Thuận lợi:
- Xã có vị trí địa lý thuận lợi do nằm trên trục quốc lộ 12B và giáp với thị trấn huyện nên có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế xã hội cũng như giao lưu với bên ngoài.
- Khí hậu, thời tiết phù hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi.
- Địa hình, đất đai của xã đa dạng phù hợp với việc phát triển đa dạng cây trồng và vật nuôi.
Khó khăn:
- Địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh gây nhiều khó khăn cho sản xuất cũng như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Lượng mưa lớn và tập trung trong mùa mưa kết hợp với địa hình dốc nên thường xảy ra lũ lụt và sạt lở đất gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống.


1. Vị trí địa lý

Mỹ Hòa là xã miền núi, cách Thị trấn huyện lỵ Tân Lạc 10 km về phía Bắc, thuộc vùng giữa của huyện. Trên địa bàn xã có hai đường trục liên xã nối quốc lộ 6 đi các xã phía Bắc của huyện. Ranh giới hành chính xã như sau:

Phía bắc và tây bắc giáp xã Trung Hòa

Phía nam giáp xã Tuân Lộ

Phía đông bắc giáp xã Tây Phong

Phía tây nam giáp xã Phong Phú.

Phía tây giáp xã Phú Vinh

Tổng dân số là 3.750 người, dân cư phân bố thành 4 xóm. Tổng diện tích đất tự nhiên là 3.087,82 ha.

2. Điều kiện tự nhiên

Địa hình:

Về địa hình, xã có đặc điểm địa hình miền núi phức tạp, độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng 424 m, gồm 3 dạng địa hình chính:

- Dạng địa hình thung lũng: dạng địa hình này nằm giữa khu núi đá phía đông, khu đất phía tây và 2 bên suối Đon, có độ cao trung bình là 134m so với mặt nước biển. Khu này chủ yếu là các ruộng bậc thang có độ chênh lệch không lớn, chủ yếu trồng lúa, màu.

- Dạng địa hình núi đất: nằm về phía tây, nam, đông nam có độ cao trung bình 302m, khu vực này chủ yếu trồng cây màu, cây công nghiệp.

- Dạng địa hình núi đá ở phía đông bắc xã, độ cao trung bình 457m, khu vực này hiện được khoanh nuôi bảo vệ rừng, rừng tái sinh.

Nhìn chung địa hình của xã rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp đặc biệt là trồng cây hàng năm, nhất là cây mía hiện mang lại giá trị kinh tế cao.

Khí hậu:

Khí hậu xã Mỹ Hòa mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

Nhiệt độ bình quân trong năm là 230C, nhiệt độ tháng cao nhất là 33,20C vào tháng 7, nhiệt độ tháng thấp nhất là 12,70C chủ yếu vào tháng 1 và 2. Nhiệt độ giữa các vùng cũng khác nhau, ở vùng cao thì nhiệt độ các tháng lạnh thì thấp hơn các vùng thấp từ 2-30C, mùa đông cũng đến sớm và kết thúc muộn hơn. Biên độ giữa các tháng trong năm chênh lệch trung bình là 8,20C, giữa ngày và đêm là 8,40C – 9,7 0C.

 Độ ẩm không khí bình quân các tháng trong năm là 82%, tháng cao nhất là 86%, tháng thấp nhất là 79%, độ ẩm cao nhất rơi vào các tháng cuối xuân đầu hè và thấp nhất vào những tháng mùa đông. Hiện tượng sương muối xuất hiện vào các tháng 12 năm trước và tháng 1 năm sau kết hợp với các yếu tố khí hậu khác trong thời kỳ này làm cho cây trồng khó sinh trưởng và phát triển. Hiện tượng mưa đá cũng xuất hiện vào các tháng 3, tháng 4 và tháng 5 gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp.

- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.833,4mm, năm cao nhất có thể tới 2.850 mm, năm thấp nhất 1.210 mm và phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 thường tập trung tới 85,2% lượng mưa trong năm). Lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới 336,1 mm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau lượng mưa không đáng kể chỉ có 271,2 mm nên thường bị khô hạn.

- Lượng bốc hơi: bình quân năm là 910,1 mm, bằng 49,64% so với lượng mưa trung bình năm. Lượng bốc hơi trong các tháng mùa khô cao, do đó mùa khô càng thiếu nước gây ảnh hưởng lớn đến cây trồng vụ đông xuân.

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình là 82%, giữa các tháng trong năm biến động trong khoảng từ 79 – 86%. Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là các tháng 4, tháng 5, tuy nhiên sự chênh lệch giữa các tháng không lớn.

- Gió : Hướng gió thịnh hành trong mùa khô là gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, các tháng còn lại chủ yếu có gió nam, tây nam và đông nam.

- Sương muối : Thường xuất hiện vào tháng 12 năm trước và tháng 1 năm sau cùng với các kiểu khí hậu khác trong thời kỳ này làm cho cây trồng khó sinh trưởng, phát triển.

- Mưa đá: thường xuất hiện vào các tháng 3, tháng 4 và tháng 5 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp

                        Thủy văn

Trên địa bàn xã không có sông suối lớn, nguồn nước chính phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của người dân là từ các con suối nhỏ và các hồ chứa cung cấp. Hồ chứa lớn nhất ở đây là hồ Chù Bụa (diện tích 18,96 ha) có dung tích khá lớn chảy theo hướng tây bắc – đông nam đổ vào suối Đon (xóm Chuông), nhờ hệ thống phai, đập, kênh mương cung cấp nước tưới cho cả 3 xóm (Chù Bụa, Chuông, Đon). Ngoài ra còn có một số con suối nhỏ chỉ hình thành trong mùa mưa (suối Ấm, suối Đon) cũng góp phần cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất. Nguồn nước ngầm hiện chưa có số liệu khảo sát, nhưng qua điều tra một số hộ gia đình có giếng đào thì nguồn nước ngầm ở độ sâu khoảng 14m.

3. Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện thấy tồn tại loại khoáng sản nào có giá trị kinh tế.


1. Vị trí địa lý

Xã Nam Sơn là xã miền núi, nằm cách trung tâm huyện Tân Lạc 31 km về phía Tây Bắc.

Địa giới hành chính của xã như sau:

- Phía Bắc giáp xã Bắc Sơn và Lũng Vân.

- Phía Nam giáp xã Ngổ Luông.

- Phía Tây giáp xã Lũng Cao, huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hoá.

  2. Điều kiện tự nhiên:

  Địa hình

 Địa hình xã Nam Sơn rất phức tạp với những dãy núi cao, độ chia cắt khá lớn. Dải thung lũng nhỏ hẹp nằm giữa, nơi đây có những cánh đồng nhỏ hẹp và là nơi tập trung hầu hết diện tích đất nông nghiệp của xã. Những dãy núi cao chiếm phần lớn diện tích đất đai của xã, ngoài diện tích đất lâm nghiệp có rừng còn nhiều đất trống, đồi trọc và núi đá không có rừng cây. Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 800- 850m.

Khí hậu thời tiết

Nằm trong nền khí hậu chung nhiệt đới, á nhiệt đới gió mùa xã có đặc điểm khí hậu miền núi cao. Một năm chia làm 2 Mùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Các chỉ tiêu khí hậu chính có các đặc trưng sau:

- Nhiệt độ không khí: Bình quân năm là 23,30C, nhiệt độ thấp nhất trung bình trong năm là 20,60C xảy ra vào các tháng 1, nhiệt độ cao nhất trung bình là 27,20C. Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối từ 2 - 2.50C. Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất trên 24,70C (tháng 7). Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10.

Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm chênh lệch trung bình là 7,60C, giữa ngày và đêm cũng lớn 8 -100C.

- Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.560 giờ, năm cao nhất là 1.750 giờ, năm thấp nhất là 1.470 giờ.

- Lượng mưa và bốc hơi:

+ Lượng mưa bình quân năm là 1.750 mm, năm cao nhất có thể tới 2.800 mm, thấp nhất là 1.250mm, sự  phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm gần 84% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới trên 300 mm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ còn khoảng 16%, tháng mưa ít nhất trung bình trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 chỉ có 10 - 20mm.

+ Lượng bốc hơi: Bình quân năm là 885 mm, bằng 50,6% so với lượng mưa trung bình năm. Lượng bốc hơi lớn trong các tháng mưa ít, do đó mùa khô đã thiếu nước lại càng thiếu hơn, ảnh hưởng lớn đến cây tròng vụ đông xuân.

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 75 - 86%. Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là các tháng 4, tháng 5, tuy nhiên chênh lệch về độ ẩm không khí giữa các tháng trong năm không lớn. Các tháng cuối mùa khô tuy lượng mưa thấp nhưng do có sương mù nên độ ẩm không khí khá cao, đây là điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng cây trồng cạn.

- Gió: Hướng gió thịnh hành về mùa khô là gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Còn lại các tháng trong năm chủ yếu là gió nam, gió tây nam và gió đông nam. Gió tây nam thường xuất hiện tháng 6, 7 gây khô và nóng.

- Sương muối: Thường xuất hiện vào các tháng 12 và tháng 1 năm sau, cùng với các yếu tố khí hậu bất lợi khác trong thời kỳ này làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng.

3. Các nguồn tài nguyên:

Tài nguyên nước

Trên địa bàn xã không có sông suối lớn. Nguồn nước chính phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong xã là do các con suối nhỏ và ngắn cung cấp. Trong đó có:

- Suối Xôm chảy trên đại bàn xóm Xôm với 2 nhánh dài khoảng 2.2 km.

- Suối Bến Bai là một nhánh của suối nước Bục, chảy trên địa bàn xóm Chiến và sang xã Lũng Vân, đoạn trên đại bàn xã dài khoảng 1.5 km.

- Suối Dồ chảy từ xóm Dồ gần đến xóm Tớn thì chảy ngầm vào núi đá, dài khoảng 1.2km.

- Suối Tải không nhỏ và ngắn nằm trên địa bàn xóm Bái.

Tài nguyên đất

Hiện nay xã chưa lập được bản đồ nông hoá thổ nhưỡng. Theo tài liệu lưu trữ của địa phương và kết quả điều tra bổ sung thì trên địa bàn xã gồm các loại đất chính sau đây:

Bảng 1: Tổng hợp diện tích các loại đất trên địa bàn xã Nam Sơn

Đơn vị: ha

Tên đất

Ký hiệu

Diện tích

Tỷ lệ (%)

Đất nâu đỏ trên đá macma và trung tính

Fk

106

5,20

Đất đỏ vàng nhạt trên phiến thạch sét

Fs

518,28

25,41

Đất nâu đỏ trên đá vôi

Fv

1252

61,39

Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước

Fl

90,25

4,43

Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ

D

65

3,19

Cộng diện tích đất

 

2031,5

99,62

Sông suối

 

7,75

0,38

Tổng diện tích tự nhiên

 

2039,3

100

1. Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính ( Ký hiệu Fk)

Diện tích 106 ha chiếm 5,2% diện tích tự nhiên của xã. Đất được phân bố ở độ dốc cao ( 20 - 250) cho nên khả năng chủ yếu là trồng, khoanh nuôi và bảo vệ rừng, ở những nơi có độ dốc thấp hơn có khả năng trồng cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả.

2. Đất nâu đỏ trên đá vôi ( ký hiêu Fv)

Diện tích 1252 ha, chiếm 61.39% diện tích tự nhiên, phân bố hầu hết các xóm trong xã. Đất rất thích hợp cho trồng màu, lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng cần kết hợp bổ sung các chất dinh dưỡng, hạn chế xói mòn làm rửa trôi các chất dinh dưỡng trong đất.

3. Đất đỏ vàng nhạt trên phiến thạch sét ( ký hiệu Fs)

Diện tích 518,28 ha, chiếm 25.41% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía tây nam của xã. Độ dốc tương đối cao ( 20 - >250). Tầng đất từ dày đến trung bình, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nặng. Đất có khả năng chủ yếu là trồng và khoanh nuôi bảo vệ rừng.

4. Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước ( ký hiệu Fl)

Diện tích 90,25 ha, chiếm 4.43% diện tích tự nhiên. Được phân bổ ở ven các con suối. Đây là loại đất có độ phì khá nên bố trí trồng 2 vụ lúa, nơi chân ruộng cao nên trồng 1 vụ lúa + 1 màu. Tuy nhiên trong quá trình canh tác cần chú trọng công tác thuỷ lợi và làm ruộng tránh để nước chảy tràn bờ rửa trôi keo sắt.

5. Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ ( ký hiệu D)

Diện tích 65 ha, chiếm 3,19% diện tích tự nhiên. Đất được hình thành ở dưới các chân đồi do các sản phẩm từ trên núi đưa xuống lắng đọng mà tạo thành. Đất rất thích hợp trồng lúa nước, tuy nhiên trong quá trình sử dụng chú ý bón phân hợp lý để tăng độ màu mỡ cho đất.

Tài nguyên rừng

Toàn xã có 1641.27 ha rừng, chiếm 80,48% tổng diện tích tự nhiên, chủ yếu là đất rừng đặc dụng diện tích 151,84 ha chiếm 74,28% tổng diện tích tự nhiên, đất rừng sản xuất diện tích 104,80 ha, chiếm 5,14% tổng diện tích tự nhiên, đất rừng phòng hộ 21,63 ha, chiếm 1,06% tổng diện tích tự nhiên. Khu rừng khoanh nuôi tái sinh còn một số ít loại cây thân gỗ to. Động vật rừng hầu như chỉ còn những loài nhỏ như chồn, cầy, cáo...

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện thấy có loại tài nguyên khoáng sản nào có giá trị kinh tế ngoài khai thác đá xây dựng.

Tài nguyên nhân văn

Phong tục tập quán của nhân dân trong xã mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc Mường với nhiều nét dẹp truyền thống được thể hiện qua sự sinh hoạt hàng ngày của người dân trong xã:

- Văn hóa vật chất: Đó là sự thể hiện ở nhà cửa, vùng quần cư, y phục, ăn uống, tư liệu sản xuất và tập quán canh tác.

- Văn hóa xã hội: Thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc ở Nam Sơn không tách khỏi những nét đặc trưng cơ bản của các dân tộc vùng Hòa Bình nói chung, đó là thiết chế xóm bản của người Mường.

- Văn hóa tinh thần: Bao gồm rất nhiều lĩnh vực cấu thành thượng tầng kiến trúc từ phong tục tập quán đến các hoạt động văn hóa, thể thao...

Cảnh quan môi trường

Là xã miền núi, có cả núi đá, núi đất và khu vực thung lũng tương đối bằng phẳng, kết hợp với các nguồn tài nguyên khí hậu tạo cho địa phương một cảnh quan đẹp và môi trường trong sạch. Tuy nhiên việc chăn thả gia súc, nuôi nhốt dưới gầm nhà sàn làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân. Trong canh tác nông nghiệp sử dụng hóa chất không hợp lý cũng ảnh hưởng đến môi trường.


1. Vị trí địa lý

Ngọc Mỹ là xã vùng thấp của huyện Tân Lạc, nằm về phía Đông-Nam huyện và cách thị trấn huyện khoảng 13 km theo quốc lộ 12B. Ranh giới của xã như sau:

- Phía Bắc giáp xã Yên Thượng huyện Cao Phong.

- Phía Đông và phía Nam giáp huyện Lạc Sơn.

- Phía Tây giáp xã Đông Lai huyện Tân lạc.

Xã Ngọc Mỹ có tổng diện tích tự nhiên 3.164,07 ha và được chia thành 19 thôn, xóm. Dân số của xã gồm 1.334 hộ và 5.679 khẩu. Xã có quốc lộ 12B chạy qua nối xã với trung tâm huyện và với bên ngoài rất thuận lợi cho việc giao lưu. Dân số xã Ngọc Mỹ phân bố không đồng đều, hiện nay dân cư bố trí thành 19 thôn, xóm với tổng số 1.334 hộ và 5.679 khẩu, bao gồm các dân tộc:

+ Mường:  4.869 người, chiếm 85,7%

+ Kinh:            800 người, chiếm 14,1%

+ Thái:   10 người, chiếm 0,18%

2. Địa hình:

Xã Ngọc Mỹ nằm trong vùng có địa hình đồi núi thấp với địa hình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bới các khe suối và đồi núi cao, xen kẽ là các dãy núi đá vôi. Địa hình của xã có thế chia thành 2 dạng địa hình chính:

- Địa hình đồi núi dốc và cao: Tập trung chủ yếu ở phía Đông Bắc và Tây Nam của xã. Dạng địa hình này tương đối dốc, hiện trong vùng là rừng sản xuất của dân địa phương.

- Địa hình thung lũng: Phân bố chủ yếu ở khu vực trung tâm xã dọc hai bên quốc lộ 12B. Dạng địa hình này tương đối bằng phẳng và là vùng sản xuất chính để trồng lúa và các loại cây hàng năm, lâu năm khác. Đây cũng là vùng tập trung dân cư và sản xuất chính của xã.

Nhìn chung địa hình của xã rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp với việc phỏt triẻn đa dạng cõy trồng và cỏc hỡnh thức nụng nghiệp khỏc.

3. Khí hậu:

Khí hậu xã Ngọc Mỹ mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

- Nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27 - 28oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17- 19oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 10oC.

- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.750mm, phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 thường tập trung tới 85% lượng mưa trong năm). Mùa khô lượng mưa không đáng kể nên thường bị khô hạn. Tổng số ngày mưa trong năm khoảng 120 ngày, tập trung vào từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm.

- Lượng bốc hơi bình quân hàng năm khoảng 500-700 mm. Năm cao là 850 mm và năm thấp là 450 mm.

- Độ ẩm không khí bình quân trong năm là 82%, tháng cao nhất 99%, tháng thấp nhất 69%.

- Sương mù thường xuất hiện vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Tập trung nhiều vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Số ngày có sương mù hàng năm khoảng 38 ngày.

- Sương muối thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 hàng năm. Trung bình mỗi năm có 1,3 ngày xuất hiện sương muối, năm cao nhất có 6 ngày.

- Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1700 giờ. Số giờ nắng trung bình về mùa hè là 7giờ/ ngày, mùa đồng là 5 giờ/ ngày.

- Hướng gió thịnh hành về mùa hè là Tây Nam, về mùa đông là Đông Bắc. Đôi khi có gió nóng (gió tây) nhưng mức độ không cao.

4. Thủy văn:

Nhìn chung hệ thống khe suối trong xã đáp ứng được các nhu cầu về sản xuất và sinh hoạt. Tuy nhiên do địa hình dốc nên về mùa khô thường gặp khó khăn trong việc cấp nước.

5. Tài nguyên

           Tài nguyên đất:

Ngọc Mỹ có các loại đất chính sau:

- Đất nâu đỏ trên đá mác ma bazơ và trung tính: Diện tích 1.403 (chiếm 43,81% tổng diện tích tự nhiên).

- Đất nâu đỏ trên đá vôi: Diện tích 804,53 ha (chiếm 25,12% tổng diện tích tự nhiên).

- Đất vàng nhạt trên đá sa thạch: Diện tích 155,14 ha (chiếm 4,84% tổng diện tích tự nhiên)

- Đất vàng đỏ trên đá sét: Diện tích 356,50 ha (chiếm 11,13% tổng diện tích tự nhiên)

- Đất feralit biến đổi do trồng lúa nước: Diện tích 281,45 ha (chiếm 8,79% tổng diện tích tự nhiên)

- Các loại đất khác: Diện tích 140,5 ha (chiếm 4,39% tổng diện tích tự nhiên)

Nhìn chung các loại đất của xã Ngọc Mỹ phần lớn là các loại đất tốt, có độ dày tương đối lớn, phù hợp với nhiều loại cây trồng. Ngoài lúa và một số loại hoa màu, hiện nay người dân địa phương đã trồng các loại cây cho hiệu quả kinh tế cao như các loại cây ăn quả, mía ....

Tài nguyên rừng

Rừng của xã Ngọc Mỹ chiếm diện tích khá lớn so với tổng diện tích tự nhiên, trong đó bao gồm rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Là xó miền nỳi với địa hỡnh đa dạng, phức tạp nờn xã có nhiều loại thực phủ nhưng chủ yếu là rừng tạp, cây tán lá rộng. Rừng trồng chủ yếu là rừng bạch đàn, keo Những loại cây phục vụ cho việc chế biến sản xuất giấy và một số mặt hàng công nghiệp khác, độ che phủ trung bình từ 75 – 85%.

Động vật rừng: Do điều kiện địa hỡnh, địa chất và dạng sinh cảnh nờn đó tạo cho rừng cú nhiều động vật phong phỳ, quý hiếm. Trong những năm qua do sự tàn phỏ rừng, săn bắt bừa bói của nhõn dõn địa phương nờn đó làm thu hẹp mụi trường sống của cỏc loại động vật.

Nhìn chung xã có nhiều tiềm năng phỏt triển rừng và đây cũng là nguồn tài nguyên rất quan trọng của xã. Để bảo vệ và phát triển bền vững cần có sự đầu tư và quan tâm của các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương.

Khoáng sản

Trên địa bàn xã Ngọc Mỹ có nhiều núi đá vôi là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho xây dựng, thuận tiện cho việc khai thác và vận chuyển.

 

Sản xuất công nghiệp hiện chưa phát triển, nhưng trong tương lai hứa hẹn nhiều tiềm năng trong việc khai thác vật liệu, phát triển công nghiệp chế biến.

 

Tài nguyên nhân văn.

 

Xã có các dân tọc chính Mường, Kinh, Thái .... Cộng đồng các dân tộc trong xã với những truyền thống và bản sắc riêng đã hình thành nên nền văn hoá đa dạng, nhiều nét độc đáo. Sự đa dạng của kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gian về cơ bản vẫn được bảo tồn và lưu truyền cho đến ngày nay. Đời sống văn hoá đều được người dân quan tâm phát triển gìn giữ bản sắc văn hoá của từng làng quê.

 


1. Vị trí địa lý

Xã Bắc Sơn là xã vùng cao cách trung tâm huyện lỵ Tân Lạc 30 km về phía tây. Ranh giới hành chính của xã như sau:

- Phía  Bắc giáp xã Quyết Chiến huyện Tân Lạc và xã Noong Luông huyện Mai Châu.

- Phía Tây giáp xã Pù Bin, huyện Mai Châu.

- Phía Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hóa.

- Phía Đông giáp xã Lũng Vân.

- Phía Đông Nam giáp xã Nam Sơn.

Với vị trí địa lý như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai ở đây chủ yếu tập trung vào sử dụng đất đai khu trung tâm xã, dân cư nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Dân cư xã Bắc Sơn được bố trí tại 5 xóm với tổng số 316 hộ và 1.279 nhân khẩu, gồm có 3 dân tộc cùng sinh sống, trong đó:

+ Dân tộc Kinh:                   1 ng­ười, chiếm 0,08%;

+ Dân tộc Mường:               1.266 ng­ười, chiếm 98,98%;

+ Dân tộc Thái:              12 ngư­ời, chiếm 0,94%;

 Hiện tại số lao động trong độ tuổi của xã là 816 ngư­ời, chiếm 63,80% dân số, trong đó lao động nam chiếm 50,25%, lao động nữ chiếm 49,75%. Lao động trong xã chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp với 756 người, chiếm 92,65% tổng số lao động, lao động phi nông nghiệp với 60 người, chiếm 7,35%.

2. Địa hình

            Bắc Sơn là xã có địa hình phức tạp, bị chia cắt nhiều, độ cao trung bình 900 m so với mặt nước biển, độ dốc bình quân 250, có nhiều nơi trên 300.

3. Khí hậu thời tiết

Bắc Sơn là xã miền núi nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt. Đặc điểm cơ bản của thời tiết là mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông khô hạn và rét đậm.

Nhiệt độ trung bình năm là 23,50C. Lượng mưa trung bình năm là 1900 – 2200 mm. Nhưng phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8 và 9 trong năm nên nằm ở thời điểm này thường có lũ, ngược lại các tháng của mùa đông thường hay khô hạn và thiếu nước.

Độ ẩm không khí trung bình năm là 85%. Số giờ nắng trong năm từ 2100 giờ đến 3000 giờ.

Hướng gió chủ đạo là hướng Đông Nam, Đông Bắc và Tây Nam. Hàng năm thường hay có gió mùa, gió Lào và rét đậm kéo dài.

Mùa Đông nhiệt độ xuống thấp kèm theo mưa phùn và u ám, thiếu ánh sáng và hay có sương muối.

4. Các nguồn tài nguyên.

Tài nguyên nước

Nguồn nước của xã chủ yếu là nguồn nước trời. Trên địa bàn xã có một số suối nhỏ cung cấp nước cho nhân dân địa phương sinh hoạt. Nhân dân địa phương thường sử dụng nguồn nước dẫn từ trên đồi về và nước giếng đào. Song mùa khô cũng rất thiếu nước.

Tài nguyên đất

Hiện nay xã chưa có tài liệu về nông hoá thổ nhưỡng. Nhưng theo bản đồ nông hoá thổ nhưỡng của huyện tỷ lệ 1:50.000 thì xã gồm các loại đất chính sau:

- Đất nâu đỏ trên đá macma ba zơ và trung tính (Fk). Diện tích 380 ha, nằm ở phía Đông Bắc của xã. Đặc điểm loại đất này được hình thành do quá trình phong hóa của đá ba zơ và Anđêzit fooc Piarit, đất có màu nâu đỏ đến nâu vàng, cấu trúc hạt kết bền, độ xốp cao, đất chua (pH­­kcl từ 4,0 – 4,5). Loại đất này thích hợp với các cây chè, cà phê, cây ăn quả, cây dược liệu.

- Đất xói mòn, thái hóa (Fe): có diện tích 850 ha. Loại đất này chủ yếu được hình thành trên đá sa thạch, đất chua, nghèo dinh dưỡng. Hiện nay loại đất này mới được sử dụng vào mục đích lâm nghiệp, tập trung ở vùng phía Tây Nam của xã.

- Đất thung lũng chua (L, u,c) diện tích khoảng 93 ha, hiện nay đang sử dụng trồng lúa màu.

Tài nguyên rừng

Rừng đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong đời sống từ xưa đến nay của người dân vùng cao nói chung và người dân trong xã nói riêng. Tổng diện tích rừng toàn xã hiện có 1.004,34 ha, chiếm 67,64 % diện tích đất tự nhiên, chủ yếu rừng khoanh nuôi tái sinh, rừng trồng sản xuất có 28,75 ha, chiếm 2,86% tổng diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng đặc dụng có 975,59 ha, chiếm 97,14 % tổng diện tích đất lâm nghiệp.Tỷ lệ che phủ hiện nay đạt 56%, tăng nhiều so với năm 2005 là 52%). Khu rừng khoanh nuôi tái sinh còn một số ít loại cây thân gỗ to như: dổi, lim, lát, de. Động vật rừng chủ yếu là các động vật nhỏ.

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện thấy có loại tài nguyên khoáng sản nào có giá trị kinh tế ngoài khai thác đá xây dựng.

Tài nguyên nhân văn

- Văn hoá vật chất: đó là sự thể hiện ở nhà cửa, vùng quần cư, y phục, ăn uống, tư liệu sản xuất và lề lối canh tác.

- Văn hoá tinh thần: Bao gồm rất nhiều lĩnh vực cấu thành từ phong tục tập quán đến văn học nghệ thuật, từ giáo dục, y tế đến tín ngưỡng, hội hè... Do Bắc Sơn là khu vực quần cư mà chủ yếu là dân tộc Mường nên có nền văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc Mường. Thiết chế xã hội truyền thống của Bắc Sơn cũng mang nét đặc trung cơ bản của các dân tộc vùng Hoà Bình nói chung, đó là thiết chế xóm bản của người Mường.

Cảnh quan môi trường

Cảnh quan thiên nhiên và môi trường sống của xã Bắc Sơn mang đậm nét thôn quê miền núi với các dãy núi, khu rừng, cánh đồng, khe suối xen kẽ nhau tạo nên cảnh quan đẹp phong phú và đa dạng. Tuy nhiên việc chăn thả gia súc, nuôi nhốt dưới gầm nhà sàn làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân. Trong canh tác nông nghiệp sử dụng hóa chất không hợp lý cũng ảnh hưởng đến môi trường.


1. Vị trí địa lý

Xã Ngổ Luông là xã miền núi, nằm cách trung tâm huyện Tân Lạc hơn 30 km về phía Tây Bắc. Xã có ranh giới hành chính như sau:

Phía Bắc Giáp xã Quyết Chiến và Gio Nhân

Phía Tây giáp xã Lũng Vân, xã Nam Sơn (huyện Tân Lạc – Hòa Bình) và xã Lũng Cao (huyện Bá Thước – Thanh Hóa)

Phía Nam giáp xã Cổ Lũng (huyện Bá Thước – Thanh Hóa), Tự Do và Ngọc Sơn (huyện Lạc Sơn – Hòa Bình)

Phía Đông giáp xã Lỗ Sơn, Gia Mô (huyện Tân Lạc – Hòa Bình) và xã Phú Lương (huyện Lạc Sơn – Hòa Bình).

Với vị trí địa lý như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai ở đây chủ yếu tập trung vào sử dụng đất đai khu trung tâm xã, dân cư nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Dân cư xã Ngổ Luông được bố trí tại 6 xóm với tổng số 310 hộ và 1.403 nhân khẩu, gồm có 2 dân tộc cùng sinh sống, trong đó:

+ Dân tộc Thái:                     1 ng­ười, chiếm 0,07%

+ Dân tộc Mường:                1.402 ng­ười, chiếm 99,93%

 Hiện tại số lao động trong độ tuổi của xã là 653 ngư­ời, chiếm 46,54% dân số, trong đó lao động nam là 328 người, chiếm 50,23%, lao động nữ 325, chiếm 49,77%. Lao động trong xã chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp với 555 người, chiếm 84,99% tổng số lao động.

2. Địa hình

Địa hình xã Ngổ Luông rất phức tạp, có những dãy núi cao bao quanh, ở giữa có thung lũng hẹp chạy dọc trung tâm xã, độ chia cắt khá lớn. Dải thung lũng nhỏ hẹp nằm ở giữa, nơi đây có những cánh đồng nhỏ hẹp và là nơi tập trung hầu hết diện tích đất nông nghiệp của xã. Những dãy núi cao chiếm phần lớn diện tích đất đai của xã, ngoài diện tích đất lâm nghiệp có rừng còn nhiều đất trống, đồi trọc và núi đá không có rừng cây.

Về địa hình xã có độ cao trung bình so với mặt nư­ớc biển là 850 m, vị trí cao nhất của xã cao tới trên 1132,6 m, vị trí thấp nhất 655,5 m so với mặt nước biển. Xen kẽ là những thung lũng bằng phẳng.

3. Khí hậu thời tiết

Xã  nằm trong nền khí hậu chung nhiệt đới, á nhiệt đới gió mùa xã có đặc điểm khí hậu miền núi cao. Một năm chia làm 2 mùa: mùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.Mùa mưa thời tiết khá mát mẻ rất thuận lợi cho việc sinh hoạt của người dân và sản xuất nông nghiệp, còn mùa khô, thời tiết rất khô lạnh, có nhiều sương mù và sương muối ảnh hưởng nhiều tới việc chăn nuôi và trồng trọt. Các chỉ tiêu khí hậu chính có các đặc trưng sau.

Nhiệt độ bình quân hàng năm là 23,10C, nhiệt độ thấp nhất trung bình trong năm 20,60C xảy ra vào các tháng 1, nhiệt độ cao nhất trung bình là 27,20C. Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối từ 2 – 2,50C. Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là trên 24,70C (tháng 7). Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10.

Biên độ giữa các tháng trong năm chênh lệch trung bình là 7,60C, giữa ngày và đêm cũng lớn 8 – 100C.

Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.560 giờ, năm cao nhất 1.750 giờ, năm thấp nhất 1.470 giờ.

Lượng mưa bình quân năm là 1.750 mm, năm cao nhất có thể tới 2.800 mm, năm thấp nhất 1.250 mm, sự phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm gần 84% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa lớn nhất có thể tới trên 300 mm. Mùa khô từ cuối tháng 10 đầu tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ còn khoảng 16%, tháng mưa ít nhất trung bình trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 chỉ có 10 – 20 mm.

Lượng bốc hơi: Bình quân năm là 885 mm, bằng 50,6% so với lượng mưa trung bình năm. Lượng bốc hơi lớn trong các tháng mưa ít, do đó mùa khô đã thiếu nước lại càng thiếu hơn, ảnh hưởng lớn đến cây trồng vụ đông xuân.

Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 75 – 86%. Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là các tháng 4, tháng 5, tuy nhiên chênh lệch về độ ẩm không khí giữa các tháng trong năm không lớn. Các tháng cuối mùa khô tuy lượng mưa thấp nhưng có sương mù nên độ ẩm không khí cao, đây là điều thuận lợi cho việc gieo trồng cây trồng cạn.

Gió: hướng gió thịnh hành về mùa khô là gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Còn lại các tháng trong năm chủ yếu là gió nam, gió tây nam và gió đông nam. Gió tây nam thường xuất hiện tháng 6,7 gây khô nóng.

Sương muối: thường xuất hiện vào các tháng 12 và tháng 1 năm sau, cùng với các yếu tố khí hậu bất lợi khác trong thời kỳ này làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng.

4. Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên nước

Trên địa bàn xã không có sông và suối lớn. Nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã là do các con suối nhỏ và ngắn cung cấp. Trong đó có:

Suối Dưới chảy trên địa bàn xóm Cá, Luông Trên và Luông Dưới dài khoảng 2,50 km.

Các con suối nhỏ, ngắn và dốc cùng nhiều mó nước nhỏ nằm rải rác trên địa bàn xã cung cấp nước tưới cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Nước ngầm: Qua hệ thống giếng khơi cho thấy nước mạch tương đối giàu có khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất. Chất lượng nước thì chưa có cơ quan nào đánh giá và phân tích nhưng qua đánh giá sơ bộ thì nguồn nước ở đây tương đối tốt.

Tài nguyên đất

Hiện nay xã chưa có tài liệu về nông hoá thổ nhưỡng. Nhưng theo bản đồ nông hoá thổ nhưỡng của huyện tỷ lệ 1:50.000 thì xã gồm các loại đất chính sau:

- Đất nâu đỏ trên đá macma ba zơ và trung tính (Fk). Diện tích 244,22 ha, chiếm 6,43% diện tích tự nhiên của xã. Đất có độ dốc cao, tầng đất tương đối dày, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nặng đên trung bình. Hình thái phẫu diện màu nâu đến nâu đỏ, lẫn rất ít mẫu chất. Trong các tầng đất có cấu trúc khác nhau, thường là viên cục hoặc cục cục nhỏ. Hàm lượng mùn từ trung bình đến khá (2,7 – 3,4%), rất giàu lân và nghèo kali. Đất được phân bố ở độ dốc cao (20 – 250) cho nên khả năng chủ yếu là trồng, khoang nuôi và bảo vệ rừng. Ở nhưng nơi có độ dốc thấp hơn có khả năng trồng cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả.

- Đất nâu đỏ trên đá vôi: (Ký hiệu Fv): Diện tích 2447,21 ha, chiếm 64,48% diện tích tự nhiên, phân bố ở hầu hết các xóm trong xã. Đất thường có màu nâu đến đỏ, được hình thành ở các chân đồi. Đất có độ dốc trung bình 15 – 200), tầng dày tương đối. Đất tốt, giàu mùn và các chất hữu, kết cấu tốt, tơi xốp, rất thấm nước. Thành phần cơ giới thịt nặng. Đất rất thích hợp cho trồng màu, lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày.....Tuy nhiên trong quá trình sử dụng cần kết hợp bổ sung các chất dinh dưỡng, hạn chế xói mòn làm rửa trôi các chất dinh dưỡng.

- Đất đỏ vàng nhạt trên phiến thạch sét: (Ký hiệu Fs): Diện tích 1044,11 ha, chiếm 27,51% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía tây nam của xã. Đất được hình thành trên đá sét. Hình thái phẫu diện thường có màu nâu đỏ đến đỏ hơi vàng, đôi khi có màu vàng nhạt. Độ dốc tương đối cao (20 - > 250). Tầng đất từ dày đến trung bình, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nặng. Đất tơi xốp, lẫn rất ít các mẫu chất và đá phong hóa. Phản ứng của đất thường chua (pHkcl < 4,5), mùn và đạm tổng số ở mức trung bình, kali tổng số từ nghèo đến rất nghèo. Đất có khả năng chủ yếu là trồng và khoanh nuôi bảo vệ rừng. Ở những nơi sườn thoải nên kết hợp trồng xen các cây công nghiệp dài ngày.

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước: (Ký hiệu Fl): Diện tích 40,70 ha, chieems1,07% tổng diện tích đất tự nhiên. Được phân bố ở ven các con suối. Đất được hình thành chủ yếu trên các loại đất đỏ vàng, và đá mẹ khác nhau như đá biến chất và đá cát kết. Trải qua 1 thời gian dài được con người khai phá thành các ruộng bậc thang để trồng lúa nước cho nên đã làm thay đổi hình thái cũng như tính chất của phẫu diện. Đất có màu vàng đến vàng xám, lớp đất mặt với độ sâu từ 12 – 15 cm, tiếp đến là tầng đất hơi chặt để giữa màu, nước và phân bón, lớp đất thứ 3 là lớp đất nền hoặc đất đã biến đổi (có gley và lác đác lẫn kết von). Phản ứng của đất thường chua, hàm lượng mùn trung bình xấy xỉ 3%. Đạm, lân tổng số từ nghèo đến trung bình. Thành phần cơ giới thường là thịt nặng đến trung bình, càng xuống sâu thành phần cơ giới của đất thường nặng hơn. Đây là loại đất  có độ phì khá nên bố trí trồng 2 vụ lúa, nơi chân ruộng cao nên trồng 1 vụ lúa + 1 màu. Tuy nhiên trong quá trình canh tác cần chú trọng công tác thủy lợi và làm ruộng tránh để nước chảy tràn bờ rửa trôi keo sắt.

- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: (ký hiệu D): Diện tích 13,90 ha, chiếm 0,37% tổng diện tích tự nhiên. Đất được hình thành ở dưới các chân đồi, các ruộng trũng sâu ở giữa các thung lũng, do các sản phẩm từ trên núi đưa xuống lắng đọng mà tạo thành. Đất có màu vàng đến vàng xám, tầng đất dày, thường lẫn đá, nơi đất thấp thường có  có gley. Thành phần cơ giới  chủ yếu là thịt càng xuống sâu mức độ càng nặng. Đất có phản ứng chua và ít có sự thay đổi giữa các tầng. Hàm lượng mùn tương đối khá > 3,5%. Đạm lân tổng số từ trung bình đến khá. Đất rất thích hợp cho trồng lúa nước, tuy nhiên trong quá trình sử dụng chú ý bón phân hợp lý để lý để tăng độ màu mỡ cho đất.

Tài nguyên rừng

Rừng có diện tích 3.363,01 ha, 88,55 % là rừng tự nhiên, trong đó diện tích đất rừng sản xuất 180,24 ha, chiếm 5,36% tổng diện tích đất lâm nghiệp; diện tích đất rừng đặc dụng 3.182,77 ha, chiếm 94,64% tổng diện tích đất lâm nghiệp. Khu rừng khoanh nuôi tái sinh còn một số ít loại cây thân gỗ to như: dổi, xoan, lát, de. Động vật rừng chủ yếu là các động vật nhỏ..

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện thấy có loại tài nguyên khoáng sản nào có giá trị kinh tế ngoài khai thác đá xây dựng.

Tài nguyên nhân văn

            - Phong tục tập quán của nhân dân trong xã mang đậm bản sắc của dân tộc Mường với nhiều nét phong tục đẹp và truyền thống văn hóa lâu đời. Toàn xã có khoảng trên 30 cồng chiêng, ngoài tham gia các hồi cồng chiêng lớn, thường tổ chức vui hội vào dịp tết. Nét đẹp văn hóa được phát huy tăng thêm tình làng nghĩa xóm, nhiều xóm được công nhận là đơn vị văn hóa cấp huyện.

- Văn hoá vật chất: đó là sự thể hiện ở nhà cửa, vùng quần cư, y phục, ăn uống, tư liệu sản xuất và lề lối canh tác.

Cảnh quan môi trường

            Xã Ngổ Luông nằm gọn trong 1 thung lũng, đã được đầu tư xây dựng một số hạng mục cơ sở hạ tầng (theo chương trình 135) vừa giúp nhân dân thuận lợi trong sản xuất, sinh hoạt và tăng vẻ đẹp môi trường, thuận lợi hơn trong giao lưu bên ngoài. Là xã miền núi, có cả núi đá, núi đất khu vực thung lũng tương đối bằng phẳng, kết hợp với các nguồn tài nguyên khí hậu tạo cho địa phương một cảnh quan đẹp và môi trường trong sạch. Tuy nhiên việc chăn thả gia súc chưa hợp lý và sử dụng hóa chất không đúng cách gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân.


1. Vị trí địa lý

Ngòi Hoa là một xã vùng thượng nằm ở phía tây huyện Tân Lạc, cách trung tâm huyện Tân Lạc khoảng 50km đường bộ, khoảng 20km đường chim bay. Ranh giới hành chính của xã như sau:

Phía Đông giáp huyện Cao Phong

            Phía Tây giáp huyện Mai Châu

            Phía Bắc giáp huyện Đà Bắc

            Phía Nam giáp xã Phú Vinh

Với vị trí địa lý như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai ở đây chủ yếu tập trung vào sử dụng đất đai khu trung tâm xã, dân cư nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Dân cư xã Ngòi Hoa được bố trí tại 5 xóm với tổng số 300 hộ và 1.391 nhân khẩu, gồm có 2 dân tộc cùng sinh sống, trong đó:

+ Dân tộc Kinh:                    1 ng­ười, chiếm 0,07%

+ Dân tộc Mường:                1.390 ng­ười, chiếm 99,93%

 Hiện tại số lao động trong độ tuổi của xã là 862 ngư­ời, chiếm 61,97% dân số, trong đó lao động nam chiếm 52,32%, lao động nữ chiếm 47,68%. Lao động trong xã chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp với 831 người, chiếm 96,40% tổng số lao động.

2. Địa hình

Là xã vùng đồi núi sâu của huyện Tân Lạc nên địa hình của xã có địa hình đồi núi cao và thung lũng với dáng địa hình kiểu lòng máng cao ở hai bên đã tạo ra thung lũng ở giữa, lòng hồ Sông Đà khó khăn cho việc đi lại và canh tác của người dân .

Về địa hình xã có độ cao trung bình so với mặt nư­ớc biển là 200 mét, vị trí cao nhất của xã cao tới trên 300m so với mặt nước biển.

3. Khí hậu thời tiết

Xã  nằm trong vùng ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, do địa hình núi cao khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mùa mưa thời tiết khá mát mẻ rất thuận lợi cho việc sinh hoạt của người dân và sản xuất nông nghiệp, còn mùa khô, thời tiết rất khô lạnh, có nhiều sương mù và sương muối ảnh hưởng nhiều tới việc chăn nuôi và trồng trọt.

Nhiệt độ bình quân hàng năm là 21,80C, nhiệt độ tháng cao nhất là 31,30C, nhiệt độ tháng thấp nhất là 9,80 C, tháng nóng nhất là tháng 6, tháng lạnh nhất là tháng 1 trong năm.

Chế độ mưa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 trong năm, lượng mưa bình quân/năm là 2000- 2300 mm (thấp nhất là 1800 mm). Tổng số ngày mưa trong năm là khoảng 115 ngày, mưa tập trung vào tháng 7 đến tháng 10. Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 10-19% tổng lượng mưa cả năm..

            Chế độ chiếu sáng: Tổng số giờ nắng trung bình/năm là 1870 giờ, tháng thấp nhất là 25,8 giờ (tháng 1) , tháng cao nhất là 233 giờ (tháng 5).

            Sương mù và sương muối: Sương mù thường xuất hiện ở đây vào khoảng tháng 11 đến tháng 3 năm sau, tập trung nhiều vào tháng 12-2. Sương muối rất ít xuất hiện trên địa bàn xã, trung bình mỗi năm có 0,5 -1 ngày xuất hiện sương muối, năm cao nhất là 3 ngày.

Gió bão: Hướng gió thịnh hành thường là hai hướng: tây nam vào hè, đông bắc vào mùa đông. Gió đông bắc đem theo không khí lạnh, khô, thỉnh thoảng có mưa phùn. Gió Tây nam được hình thành theo các cơn mưa mùa hè và thường có dông gió xuất hiện, đôi lúc có gió nóng (gió lào) song mức độ nóng không cao. Bão ở địa bàn rất hạn chế hầu như không có và mức độ ảnh hưởng không lớn song thỉnh thoảng xuất hiện cơn dông gây mưa to và gió mạnh.

4. Các nguồn tài nguyên:

Tài nguyên nước

Nước mặt: xã Ngòi Hoa có suối nước mặt rất phong phú là hồ Sông Đà và suối Hoa. Đây chính là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương, đặc biệt là mặt nước chuyên dùng có thể nuôi trồng thủy sản.

Nước ngầm: Qua hệ thống giếng khơi cho thấy nước mạch tương đối giàu có khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất. Chất lượng nước thì chưa có cơ quan nào đánh giá và phân tích nhưng qua đánh giá sơ bộ thì nguồn nước ở đây tương đối tốt.

Tài nguyên đất

Hiện nay xã chưa có tài liệu về nông hoá thổ nhưỡng. Nhưng theo bản đồ nông hoá thổ nhưỡng của huyện tỷ lệ 1:50.000 thì xã gồm các loại đất chính sau:

- Đất nâu đỏ trên đá macma ba zơ và trung tính (Fk). Đặc điểm loại đất này được hình thành do quá trình phong hóa của đá ba zơ và Anđêzit fooc Piarit, đất có màu nâu đỏ đến nâu vàng, cấu trúc hạt kết bền, độ xốp cao, đất chua (pH­­kcl từ 4,0 – 4,5).

- Đất xói mòn, thái hóa (Fe): Loại đất này chủ yếu được hình thành trên đá sa thạch, đất chua, nghèo dinh dưỡng. Hiện nay loại đất này mới được sử dụng vào mục đích lâm nghiệp.

- Đất thung lũng chua (L, u,c), loại đất này  hiện nay đang sử dụng trồng lúa màu.

Tài nguyên rừng

Rừng có diện tích 2071,55 ha, 51,47 % là rừng tự nhiên, trong đó diện tích đất rừng sản xuất 865,04 ha, chiếm 41,75% tổng diện tích đất lâm nghiệp; diện tích đất rừng phòng hộ 1.206,51 ha, chiếm 58,24% tổng diện tích đất lâm nghiệp. Khu rừng khoanh nuôi tái sinh còn một số ít loại cây thân gỗ to như: dổi, xoan, lát, de. Động vật rừng chủ yếu là các động vật nhỏ..

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện thấy có loại tài nguyên khoáng sản nào có giá trị kinh tế ngoài khai thác đá xây dựng.

Tài nguyên nhân văn

- Văn hoá vật chất: đó là sự thể hiện ở nhà cửa, vùng quần cư, y phục, ăn uống, tư liệu sản xuất và lề lối canh tác.

- Văn hoá tinh thần: Bao gồm rất nhiều lĩnh vực cấu thành từ phong tục tập quán đến văn học nghệ thuật, từ giáo dục, y tế đến tín ngưỡng, hội hè... Do Ngòi Hoa là khu vực quần cư mà chủ yếu là dân tộc Mường nên có nền văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc Mường. Thiết chế xã hội truyền thống của Ngòi Hoa cũng mang nét đặc trung cơ bản của các dân tộc vùng Hoà Bình nói chung, đó là thiết chế xóm bản của người Mường.

Cảnh quan môi trường

Là xã miền núi, có cả núi đá, núi đất và vùng lòng hồ Hòa Bình, kết hợp với các nguồn tài nguyên khí hậu tạo cho địa phương một cảnh quan đẹp và môi trường trong sạch. Tuy nhiên việc chăn thả gia súc, nuôi nhốt dưới gầm nhà sàn làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân. Trong canh tác nông nghiệp sử dụng hóa chất không hợp lý cũng ảnh hưởng đến môi trường.


1. Vị trí địa lý

Xã Gia Mô nằm ở phía tây Nam huyện Tân Lạc cách trung tâm huyện lỵ khoảng 20 km. Xã có ranh giới hành chính như sau:

Phía Tây Bắc Giáp xã Lỗ Sơn.

Phía Bắc giáp xã Thanh Hối.

Phía Nam và tây Nam giáp xã Ngổ Luông.

Phía Đông giáp xã Đông Lai.

Phía đông Nam giáp xã Phú Lương.

Với vị trí địa lý như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai ở đây chủ yếu tập trung vào sử dụng đất đai khu trung tâm xã, dân cư nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Dân cư xã Gia Mô được bố trí tại 6 xóm với tổng số 706 hộ và 3.189 nhân khẩu, gồm có 4 dân tộc cùng sinh sống, trong đó:

+ Dân tộc Mông:                   1 ng­ười, chiếm 0,03%

+ Dân tộc Mường:                2.987 ng­ười, chiếm 93,67%

+ Dân tộc Thái:                 87 người, chiếm 2,73%

+ Dân tộc Kinh:                113 người, chiếm 3,54%.

 Hiện tại số lao động trong độ tuổi của xã là 1.750 ngư­ời, chiếm 54,88% dân số, trong đó lao động nam là 936 người, chiếm 53,49%, lao động nữ 814, chiếm 46,51%. Lao động trong xã chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp với 1.706 người, chiếm 97,49% tổng số lao động.

2. Địa hình

Địa hình nghiêng từ tây nam xuống  đông bắc. Độ cao giảm dần từ phía nam và phía bắc đổ về giữa. Độ dốc khá cao phía bắc và phía nam có độ dốc khoảng trên 150, trung tâm xã là khu vực khá bằng phẳng với độ dốc dưới 30, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Địa hình chủ yếu cao làm cho thiếu nước  về mùa mưa, nhưng lại bị ngập nước về mùa khô.

         3. Khí hậu thời tiết

Xã Gia Mô nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên mang đặc điểm chung của vùng, khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.

Nhiệt độ bình quân hàng năm là 23,40C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28,80C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 16,2 0C (tháng 1).

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1600 mm đến 1700 mm, nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 8 với 75% tổng lượng mưa, những tháng còn lại ít mưa (chỉ chiếm khoảng 20% tổng lượng mưa), đặc biệt là các tháng 11, 12 lượng mưa rất thấp.

Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1832,9 giờ (trung bình 5,10 giờ trong 1 ngày). Số giờ nắng cao nhất là tháng 7 với 263 giờ, tháng ít nhất là tháng 3 với số giờ nắng từ 70 – 90 giờ.

Hướng gió: chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa nóng thịnh hành là gió đông nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô thịnh hàng là gió đông bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau.

Độ ẩm không khí trung bình 83%,  độ ẩm không khí thấp nhất là 77% vào tháng 12, độ ẩm không khí cao nhất là 88% vào tháng 3,4.

Gia mô nằm trong vùng bắc bộ do đó hàng năm phải chịu ảnh hưởng của gió bão, lốc, kèm theo đó là mưa lớn tập trung gây úng lụt ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống của người dân. Về mùa khô thường xuất hiện sương muối, giá rét làm ảnh hưởng lớn tới mùa màng.

4. Các nguồn tài nguyên:

Tài nguyên nước

Điều kiện thủy văn của xã hầu hết là nhờ nước trời, đây là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất và đời sống của người dân. Ngoài ra còn có hệ thống sông cái và các con suối, hồ đập đây cũng là nguồn cung cấp nước quan trọng của xã.

Nước ngầm: Qua hệ thống giếng khơi cho thấy nước mạch tương đối giàu có khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất. Chất lượng nước thì chưa có cơ quan nào đánh giá và phân tích nhưng qua đánh giá sơ bộ thì nguồn nước ở đây tương đối tốt.

Tài nguyên đất

Đất đai của xã chủ yếu là đất feralit, đất đỏ vàng trên núi.

Loại đất này có thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình, thịt nhẹ, đất không chua, lân tổng số và lân dễ tiêu nghèo, kali tổng số và kali dễ tiêu nghèo. Các chất dinh dưỡng khác tương đối thấp. Loại đất này thuận lợi cho phát triển nhất là trồng cây lâm nghiệp, một số ít có thể trồng cây ăn quả.

Đất phù sa của hệ thống sông suối: tập trung tại khu trung tâm xã và ven các sông suối, chất lượng tốt, có thành phần cơ giới nặng, loại đất này thuận lọi cho việc trồng cây hàng năm đặc biệt là lúa...

Tài nguyên rừng

Rừng có diện tích 1.412,87 ha, 70,87 % là rừng tự nhiên, trong đó diện tích đất rừng sản xuất 463,54 ha, chiếm 32,81% tổng diện tích đất lâm nghiệp; diện tích đất rừng phòng hộ 949,33 ha, chiếm 67,19% tổng diện tích đất lâm nghiệp. Khu rừng khoanh nuôi tái sinh còn một số ít loại cây thân gỗ to như: dổi, xoan, lát, de. Động vật rừng chủ yếu là các động vật nhỏ..

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện thấy có loại tài nguyên khoáng sản nào có giá trị kinh tế ngoài khai thác đá xây dựng.

Tài nguyên nhân văn

- Phong tục tập quán của nhân dân trong xã mang đậm bản sắc của dân tộc Mường với nhiều nét phong tục đẹp và truyền thống văn hóa lâu đời.  Nét đẹp văn hóa được phát huy tăng thêm tình làng nghĩa xóm, nhiều xóm được công nhận là đơn vị văn hóa cấp huyện.

- Văn hoá vật chất: đó là sự thể hiện ở nhà cửa, vùng quần cư, y phục, ăn uống, tư liệu sản xuất và lề lối canh tác.

Cảnh quan môi trường

            Xã Gia Mô địa hình đa dạng, tạo cảnh quan đặc trưng của một vùng núi Tây Bắc Việt Nam. Môi trường thiên nhiên khá tốt do có thảm thực vật đa dạng và không gần nguồn gây ô nhiễm. Truy nhiên trong những năm gần đây diện tích rừng giảm nhanh cũng làm ảnh hưởng tới môi trường. Đất đai thời gian qua do tác động của dòng chảy nên bị xói mòn khá nhanh, đây là nguyên nhân dẫn tới đất đai bị trơ sỏi đá.


Vị trí địa lý

                        Xã Phong Phú là xã nằm ở trung tâm khu vực Mường Bi, có đường quốc lộ 6 chạy qua địa bàn. Ranh giới xã như sau:

            - Phía Đông bắc giáp xã Mỹ Hoà.

            - Phía Đông nam giáp xã Tuân lộ.

            - Phía Tây nam giáp xã Địch Giáo.

            - Phía Tây bắc giáp xã Phú Cường.

            Tổng dân số là 4039 người, dân cư phân bố thành 9 xóm, khu phố. Tổng diện tích đất tự nhiên là 1.363,17 ha.

            2. Điều kiện tự nhiên

            Địa hình

Xã Phong phú nằm trong vùng có địa hình đồi núi thấp với những dãy đồi thấp xen với các suối. Địa hình của xã có thế chia thành 2 dạng địa hình chính:

                        - Địa hình đồi núi dốc: Tập trung chủ yếu ở phía tây và phía bắc xã. Dạng địa hình này chiếm phần lớn diện tích với những dãy đồi núi thấp xen kẽ các dãy núi đá vôi, địa hình trong vùng tương đối dốc thường từ 150 – 200. Hiện trong vùng là rừng sản xuất hoặc rừng phòng hộ.

                        - Địa hình thung lũng bằng phẳng: Phân bố chủ yếu ở phía nam và khu vực trung tâm xã. Đây là vùng thuộc thung lũng Mường Bí. Địa hình trong khu vực rất bằng phẳng và được người dân sử dụng để trồng lúa và các laoij cây hàng năm khác. Đây còng là vùng tập trung dân cư và sản xuất chính của xã.

                        Nhìn chung địa hình của xã rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp với việc phát triẻn đa dạng cây trồng và các hình thức nông nghiệp khác.

Khí hậu

                        Khí hậu xã Phong Phú mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

               - Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.750mm, phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 thường tập trung tới 85% lượng mưa trong năm). Mùa khô lượng mưa không đáng kể nên thường bị khô hạn.

                        - Nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27 - 28oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17- 19oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 10oC.

                        - Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1700 giờ. Số giờ nắng trung bình về mùa hè là 7giờ/ ngày, mùa đồng là 5 giờ/ ngày.

                        - Sương mù thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 năm sau.

Thủy văn

                          Hệ thống thủy văn của xã phân bố khá đều trên địa bàn, trong đó có suối Trọng là suối lớn và quan trọng nhất, hiện trên suối này đã xây dựng hồ Trọng để phục vụ sản xuất trong vùng.

4. Tài nguyên khoáng sản

                        Trên địa bàn xã Phong Phú có nhiều núi đá vôi (điển hình là núi Lồ) là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho xây dựng, thuận tiện cho việc khai thác và vận chuyển.

                        Sản xuất công nghiệp hiện chưa phát triển, nhưng trong tương lai hứa hẹn nhiều tiềm năng trong việc khai thác vật liệu, phát triển công nghiệp chế biến. Hiện tại ở hai xã Phong Phú và Mỹ Hoà đã được quy hoạch cụm công nghiệp Phú Mỹ với diện tích 50 ha, đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp.

                        Từ kết quả khảo sát cho thấy trữ lượng đất sét trong lòng đất khá nhiều có thể phục vụ cho việc sản xuất gạch ngói. Trên địa bàn xã đang xây dựng công trình thuỷ lợi Hồ Trọng là nguồn cung cấp nước tưới và dự trữ, điều tiết nước cho xã Phong Phú nói riêng và khu vực nói chung.

                        Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là:     1.363,17 ha, trong đó:

                        - Đất nông nghiệp:              959,38 ha, chiếm 70,38% tổng diện tích tự nhiên

                        - Đất phi nông nghiệp: 202,20 ha, chiếm 14,83% tổng diện tích tự nhiên

                        - Đất chưa sử dụng:    19,59 ha, chiếm  1,44% tổng diện tích tự nhiên

                        - Đất khu dân cư NT:    182,00 ha, chiếm 13,35% tổng diện tích tự nhiên


1. Vị trí địa lý

Quy Hậu nằm về phía Bắc và giáp với Thị trấn huyện Tân Lạc. Ranh giới của xã như sau:

- Phía Đông giáp huyện Cao Phong.

- Phía Nam giáp thị trấn Mường Khến và xã Mãn Đức.

- Phía Tây giáp xã Tuân Lộ huyện Tân lạc,

- Phía Bắc giáp huyện Cao Phong.

Xã Quy Hậu có tổng diện tích tự nhiên 1.970,67 ha và được chia thành 16 thôn. Dân số của xã gồm 1.056 hộ và 4.430 khẩu. Xã có quốc lộ 6 chạy qua nối xã với trung tâm huyện và với bên ngoài rất thuận lợi cho việc giao lưu.

2. Điều kiện tự nhiên

Địa hình:

Xã Quy Hậu nằm trong vùng có địa hình đồi núi thấp với địa hình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bới các khe suối và đồi núi cao, xen kẽ là các dãy núi đá vôi. Địa hình của xã có thế chia thành 2 dạng địa hình chính:

- Địa hình đồi núi dốc: Tập trung chủ yếu ở phía Tây Băc của xã. Dạng địa hình này tương đối dốc với các dãy núi đá vôi và đồi núi thấp. Hiện trong vùng là rừng sản xuất của dân địa phương.

- Địa hình thung lũng: Phân bố chủ yếu ở khu vực trung tâm xã dọc hai bên quốc lộ 6. Dạng địa hình này tương đối bằng phẳng và là vùng sản xuất chính của người dân để trồng lúa và các loại cây hàng năm, lâu năm khác. Đây cũng là vùng tập trung dân cư và sản xuất chính của xã.

Nhìn chung địa hình của xã có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp với việc phát triển đa dạng cây trồng và các hình thức nông nghiệp khác.

Dân số xã Quy Hậu phân bố không đồng đều, hiện nay dân cư bố trí thành 16 xóm với 1.056 hộ và 4.430 khẩu, bao gồm các dân tộc chính:

+ Dân tộc Kinh:          1.509 người, chiếm 34,06% tổng dân số

+ Dân tộc Mường:      2.876 người, chiếm 64,92% tổng dân số

+ Dân tộc Thái:           41 người, chiếm 0,93% tổng dân số

+ Dân tộc khác:           3 người, chiếm 0,07% tổng dân số.

 Khí hậu:

Khí hậu xã Quy Hậu mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

- Nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27 - 28oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17- 19oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 10oC.

- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.750mm, phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 thường tập trung tới 85% lượng mưa trong năm). Mùa khô lượng mưa không đáng kể nên thường bị khô hạn. Tổng số ngày mưa trong năm khoảng 120 ngày, tập trung vào từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm.

- Lượng bốc hơi bình quân hàng năm khoảng 500-700 mm. Năm cao là 850 mm và năm thấp là 450 mm.

- Độ ẩm không khí bình quân trong năm là 82%, tháng cao nhất 99%, tháng thấp nhất 69%.

- Sương mù thường xuất hiện vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Tập trung nhiều vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Số ngày có sương mù hàng năm khoảng 38 ngày.

- Sương muối thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 hàng năm. Trung bình mỗi năm có 1,3 ngày xuất hiện sương muối, năm cao nhất có 6 ngày.

- Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1700 giờ. Số giờ nắng trung bình về mùa hè là 7giờ/ ngày, mùa đồng là 5 giờ/ ngày.

- Hướng gió thiạnh hàng về mùa hè là tây nam, về mùa đông là đông bắc. Đôi khi có gió nóng (gió tây) nhưng mức độ không cao.

 Thủy văn:

Hệ thống thủy văn của xã có một số suối nhánh và hồ chứa nước. Nhìn chung hệ thống thuỷ văn của xã khá thuận lợi cho sản xuất và đời sống. Tuy nhiên về mùa khô lưu lưọng còn bị hạn chế.

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã Quy Hậu có nhiều núi đá vôi là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho xây dựng, thuận tiện cho việc khai thác và vận chuyển.

Sản xuất công nghiệp hiện chưa phát triển, nhưng trong tương lai hứa hẹn nhiều tiềm năng trong việc khai thác vật liệu, phát triển công nghiệp chế biến.

Hiện trạng sử dụng đất

Xã có tổng diện tích tự nhiên:            1.970,67 ha, trong đó:

+ Diện tích đất nông nghiệp: 1.614,58 ha

+ Đất phi nông nghiệp:                        126,71 ha

+ Đất chưa sử dụng:                16,94 ha

+ Đất ở:                                                212,14 ha


1. Vị trí địa lý

Xã Quy Mỹ nằm ở phía tây Nam Tân Lạc cách trung tâm huyện lỵ trên 10km.

Ranh giới hành chính của xã như sau:

- Phía Bắc và Tây bắc giáp xã Đích Giáo.

- Phía Tây Nam giáp xã Quyết Chiến

- Phía Đông Nam giáp xã Do Nhân.

- Phía Đông Bắc giáp xã Tuân Lộ.

Dân cư của xã Quy Mỹ được bố trí tại 5 xóm với tổng số 445 hộ và 2.006 nhân khẩu, gồm có 3 dân tộc cùng sinh sống, trong đó:

+ Dân tộc Kinh:                   8 ng­ười, chiếm 0,40%

+ Dân tộc Mường:      1.996 ng­ười, chiếm 99,50%

+ Dân tộc Dao:                    2 ngư­ời, chiếm 0,10%

 Hiện nay toàn xã có số lao động trong độ tuổi là 1.324 ngư­ời, chiếm 66% dân số, trong đó lao động nam chiếm 50,91%, lao động nữ chiếm 49,09%. Lao động trong xã chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp với 1.284 người, chiếm 96,98% tổng số lao động.

2. Điều kiện tự nhiên

Địa hình

Địa hình nghiêng từ Tây nam xuống Đông bắc. Độ cao giảm dần từ phía Nam và phía Bắc đổ về giữa. Độ dốc khá cao phía Bắc và phía Nam có độ dốc khoảng trên 150, trung tâm xã là khu vực khá bằng phẳng với độ dốc dưới 30, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Địa hình này gây nên tình trạng thiếu nước về mùa khô, nhưng lại dễ bị ngập úng về mùa mưa.

Khí hậu thời tiết

Xã Quy Mỹ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên mang đặc điểm chung của vùng, khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.

Nhiệt độ bình quân hàng năm là 23,40C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28,80C(tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 16,20C(tháng 1).

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1600 mm đến 1700 mm, nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 8 với 75% tổng lượng mưa, những tháng còn lại ít mưa (chỉ chiếm khoảng 25% tổng lượng mưa), đặc biệt là các tháng 11, tháng 12 lượng mưa rất thấp.

Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1832,9 giờ ( 5,1 giờ trong 1 ngày). Số giờ nắng cao nhất là tháng 7 với 263 giờ, tháng ít nhất là tháng 3 với số giờ nắng từ 70 – 90 giờ.

Hướng gió: Mùa mưa thịnh hành là gió đông nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô thịnh hành là gió mùa đông bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.

Độ ẩm không khí trung bình 83%, độ ẩm không khí thấp nhất là 77% vào tháng 12, độ ẩm không khí cao nhất là 88% vào tháng 3, tháng 4.

Quy Mỹ nằm trong vùng bắc bộ do đó hàng năm phải chịu ảnh hưởng của gió bão, lốc, kèm theo đó là mưa lớn tập trung gây úng lụt ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống của người dân. Về mùa khô thường xuất hiện sương muối, giá rét làm ảnh hưởng  lớn tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng.

3. Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên nước

Điều kiện thuỷ văn của xã hầu hết nhờ nước trời, đây là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất và đời sống của người dân. Ngoài ra còn có hệ thống sông suối, hồ đập đây cũng là nguồn cung cấp nước quan trọng của xã.

Về nguồn nước ngầm: Nhìn người dân trong xã chưa sử dụng, chưa có đánh giá cụ thể về nguồn nước ngầm. Tuy nhiên đây là vùng thấp nên mực nước ngầm rất sâu, chất lượng tốt do không gần các nguồn ô nhiễm.

Tài nguyên đất

Đất đai của xã chủ yếu là đất Feralit, đất đỏ vàng trên núi.

Loại đất này có thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình, thịt nhẹ, đất không chua, lân tổng số và lân dễ tiêu nghèo, kali tổng số và kali dễ tiêu nghèo. Các chất dinh dưỡng khác tương đối thấp. Loại đất này thuận lợi cho phát triển nhất là trồng cây lâm nghiệp, một số ít có thể trồng cây ăn quả.

Tài nguyên rừng

Toàn xã có 382,05 ha rừng, chiếm 50,44% diện tích tự nhiên, trong đó có 163,49 ha rừng sản xuất và 218,56 ha rừng phòng. Rừng nguyên sinh còn ít, chủ yếu là các loại keo, bạch đàn, mít.., động vật rừng chỉ còn các loại nhỏ như chồn, cầy, cáo...

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện chưa phát hiện được loại khoáng sản nào có giá trị kinh tế cao ngoài đá xây dựng.

Tài nguyên nhân văn

Phong tục tập quán của nhân dân trong xã mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc Mường với nhiều nét dẹp truyền thống được thể hiện qua sự sinh hoạt hàng ngày của người dân trong xã:

- Văn hóa vật chất: Đó là sự thể hiện ở nhà cửa, vùng quần cư, y phục, ăn uống, tư liệu sản xuất và tập quán canh tác.

- Văn hóa xã hội: Thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc ở Quy Mỹ không tách khỏi những nét đặc trưng cơ bản của các dân tộc vùng Hòa Bình nói chung, đó là thiết chế xóm bản của người Mường.

- Văn hóa tinh thần: Bao gồm rất nhiều lĩnh vực cấu thành thượng tầng kiến trúc từ phong tục tập quán đến các hoạt động văn hóa, thể thao...

* Cảnh quan môi trường

Địa hình đa dạng, tạo ra cảnh quan đặc trưng của một vùng núi Tây Bắc Việt Nam. Môi trường thiên nhiên khá tốt do có thảm thực vật đa dạng và không gần nguồn gây ô nhiễm. Tuy nhiên trong những năm trước đây diện tích rừng giảm nhanh cũng làm ảnh hưởng xấu tới môi trường. Đất đai thời gian vừa qua do tác động của dòng chảy nên bị xói mòn khá nhanh, đây là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng đất đai bị trơ sỏi đá.


1. Vị trí địa lý

Quyết Chiến là xã vùng cao của huyện Tân Lạc, cách Thị trấn huyện lỵ Tân Lạc 20 km về phía Tây Bắc. Xã có ranh giới hành chính như sau:

- Phía Bắc giáp xã Thung Khe, huyện Mai Châu

- Phía Tây giáp các xã Lũng Vân và Bắc Sơn

- Phía Nam giáp xã Ngổ Luông

- Phía Đông giáp các xã Phú Cường, Địch Giáo và Do Nhân.

Dân cư xã Quyết Chiến được bố trí tại 7 xóm với tổng số 328 hộ và 1.494 nhân khẩu, gồm có 2 dân tộc cùng sinh sống, trong đó:

+ Dân tộc Mường:      1.489 ng­ười, chiếm 99,67%

+ Dân tộc Thái:                    5 ngư­ời, chiếm 0,33%

 Xã Quyết Chiến có số lao động trong độ tuổi là 1.039 ngư­ời, chiếm 69,54% dân số, trong đó lao động nam chiếm 48,51%, lao động nữ chiếm 51,49%. Lao động trong xã chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp với 1.006 người, chiếm 96,82% tổng số lao động.

2. Các điều kiện tự nhiên

Địa hình

Xã Quyết Chiến có địa hình rất phức tạp với những dãy núi cao, địa hình bị chia cắt mạnh. Dải thung lũng dài, hẹp nằm ở giữa với những cánh đồng nhỏ, là nơi tập trung đất nông nghiệp của xã. Những dãy núi cao chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của xã, ngoài diện tích đất lâm nghiệp có rừng, còn có nhiều đất trống, đồi trọc và núi đá không có rừng cây. Địa hình của xã có độ cao trung bình từ 800m-850m so với mặt nư­ớc biển.

Khí hậu thời tiết

- Xã Quyết Chiến có khí hậu miền núi cao, một năm chia làm hai mùa là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

- Nhiệt độ không khí bình quân năm là 23,3oC, nhiệt độ thấp nhất trung bình là 20,6oC, nhiệt độ cao nhất trung bình là 27,2oC. Biên độ giữa các tháng trong năm chênh lệch trung bình là 7,6oC, giữa ngày và đêm là 8-10oC.

- Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.560 giờ, năm cao nhất là 1.750 giờ, năm thấp nhất là 1.470 giờ.

- Lượng mưa bình quân năm là 1.750mm, năm cao nhất là 2.800mm, năm thấp nhất 1.250mm. Lượng mưa phân bố trong năm không đều, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 84% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 16% tổng lượng mưa cả năm.

- Lượng bốc hơi bình quân năm là 50,6% so với lượng mưa. Lượng bốc hơi tập trung vào các tháng có lượng mưa ít, nên mùa khô đã thiếu nước lại càng thiếu trầm trọng, ảnh hưởng xấu đến cây trồng vụ đông xuân.

- Độ ẩm không khí trung bình là 82%, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 75 đến 86%. Các tháng cuối mùa khô tuy lượng mưa thấp nhưng do có sương mù nên độ ẩm không khí vẫn khá cao, rất thuận lợi cho gieo trồng cây trồng cạn.

- Gió: Hướng gió thịnh hành về mùa khô là gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Các tháng còn lại trong năm là gió nam, gió tây nam và gió đông nam.

- Sương muối thường xuất hiện vào các tháng 12 và tháng 1 năm sau cùng với các yếu tố khí hậu thời tiết bất lợi khác đã ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây trồng.

   4. Các nguồn tài nguyên:

* Tài nguyên nước

Trên địa bàn xã không có sông, chỉ có các con suối ngắn, đây là nguồn nước chính phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân địa phương.

- Suối Mang Cá chảy trên địa bàn xóm Cá với 2 nhánh chính dài khoảng 4,6 km.

- Suối Hung chảy từ xã Lũng Vân qua xóm Trung Hưng và xóm Thung rồi chảy sang xã Do Nhân, đoạn chảy qua xã Quyết Chiến dài 2,6 km.

- Suối Khoang Quang chảy từ xóm Biệng qua xóm Khao ròi chảy sang xã Địch Giáo, đoạn chảy qua xã Quyết Chiến dài khoảng 1,6 km.

- Xóm Khao chảy trên địa phận xóm Khao và xã Địch Giáo, đoạn chảy trên địa phận xã Quyết Chiến dài khoảng 1,4 km.

* Tài nguyên đất

Hiện nay xã Quyết Chiến chưa lập được bản đồ nông hóa thổ nhưỡng. Theo tài liệu lưu trữ của địa phương và kết quả điều tra bổ sung, trên địa bàn xã có các loại đất chính sau:

- Đất nâu đỏ trên đá Mác ma ba zơ và trung tính (ký hiệu Fk): Diện tích 229 ha, chiếm 9,04% diện tích tự nhiên.

- Đất nâu đỏ trên đá vôi(ký hiệu Fv): Diện tích 1.241,5 ha, chiếm 49,01% diện tích tự nhiên.

- Đất đỏ vàng nhạt trên đá phiến sét (ký hiệu Fs): Diện tích 916 ha, chiếm 36,16% diện tích tự nhiên.

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước(ký hiệu Fl): Diện tích 96,4 ha, chiếm 3,81% diện tích tự nhiên.

- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (ký hiệu D): Diện tích 46 ha, chiếm 1,82% diện tích tự nhiên.

Về phân bố cây trồng: Cây lúa và cây công nghiệp ngắn ngày phân bố trên 2 loại đất chính là đất đỏ vàng biến đổi do tròng lúa nước và đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ; Cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày phân bố trên đất đồi núi có độ dốc từ 15-20o, nơi có độ dốc trên 20o được bố trí trồng và khoanh nuôi, bảo vệ rừng.

Tài nguyên rừng

Toàn xã có 1.960,62 ha rừng, chiếm 77% diện tích tự nhiên, trong đó có 1.950,52 ha rừng tự nhiên phòng hộ và 10 ha rừng trồng phòng hộ. Rừng nguyên sinh còn ít, chủ yếu là các loại gỗ dẻ, bồ đề..., động vật rừng chỉ còn các loại nhỏ như chồn, cầy, cáo...

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện chưa phát hiện được loại khoáng sản nào có giá trị kinh tế cao ngoài đá xây dựng.

Tài nguyên nhân văn

Phong tục tập quán của nhân dân trong xã mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc Mường với nhiều nét dẹp truyền thống được thể hiện qua sự sinh hoạt hàng ngày của người dân trong xã:

- Văn hóa vật chất: Đó là sự thể hiện ở nhà cửa, vùng quần cư, y phục, ăn uống, tư liệu sản xuất và tập quán canh tác.

- Văn hóa xã hội: Thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc ở Quyết Chiến không tách khỏi những nét đặc trưng cơ bản của các dân tộc vùng Hòa Bình nói chung, đó là thiết chế xóm bản của người Mường.

Cảnh quan môi trường

Là xã miền núi có cả núi đá và núi đất và khu vực thung lũng tương đối bằng phẳng, kết hợp với tài nguyên khí hậu đã tạo cho Quyết Chiến một cảnh quan đẹp và trong lành. Tuy nhiên do tập quán chăn nuôi gia súc chưa khoa học đã gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân ở mức độ nhất định.


1. Vị trí địa lý

Thanh Hối là xã vùng thấp của huyện Tân Lạc, nằm về phía Đông-Nam huyện và cách thị trấn huyện khoảng 7 km theo quốc lộ 12B. Ranh giới của xã như sau:

- Phía Đông-Bắc giáp huyện Cao Phong.

- Phía Đông-Nam giáp xã Đông Lai huyện Tân Lạc.

- Phía Tây-Nam giáp xã Lỗ Sơn và Gia Mô huyện Tân lạc.

- Phía Tây-Bắc giáp xã Tử Nê huyện Tân Lạc

Xã Thanh Hối có tổng diện tích tự nhiên 2.656,11 ha và được chia thành 19 thôn, xóm. Dân số của xã gồm 1.493 hộ và 6.158 khẩu. Xã có quốc lộ 12B chạy qua nối xã với trung tâm huyện và với bên ngoài rất thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế xã hội.

Dân số xã Thanh Hối phân bố không đồng đều, hiện nay dân cư bố trí thành 19 thôn, xóm với tổng số 1.493 hộ và 6.158 khẩu, bao gồm các dân tộc:

+ Mường:        5.173 người, chiếm 84,00 %

+ Kinh:               980 người, chiếm 15,91 %

+ Dân tộc khác: 5 người, chiếm    0,08 %

2. Cỏc điều kiện tự nhiờn:

Địa hình:

Xã Thanh Hối nằm trong vùng có địa hình đồi núi thấp với địa hình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bới các khe suối và đồi núi cao, xen kẽ là các dãy núi đá vôi. Địa hình của xã có thế chia thành 2 dạng địa hình chính:

- Địa hình đồi núi dốc và cao: Tập trung chủ yếu ở phía Đông Băc và Tây Nam của xã. Dạng địa hình này tương đối dốc, hiện trong vùng là rừng sản xuất của dân địa phương.

- Địa hình thung lũng: Phân bố chủ yếu ở khu vực trung tâm xã dọc hai bên quốc lộ 12B. Dạng địa hình này tương đối bằng phẳng và là vùng sản xuất chính để trồng lúa và các loại cây hàng năm, lâu năm khác. Đây cũng là vùng tập trung dân cư và sản xuất chính của xã.

Nhìn chung địa hình của xã rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp với việc phỏt triẻn đa dạng cõy trồng và cỏc hỡnh thức nụng nghiệp khỏc.

Khí hậu:

Khí hậu xã Thanh Hối mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

- Nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27 - 28oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17- 19oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 10oC.

- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.750mm, phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 thường tập trung tới 85% lượng mưa trong năm). Mùa khô lượng mưa không đáng kể nên thường bị khô hạn. Tổng số ngày mưa trong năm khoảng 120 ngày, tập trung vào từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm.

- Lượng bốc hơi bình quân hàng năm khoảng 500-700 mm. Năm cao là 850 mm và năm thấp là 450 mm.

- Độ ẩm không khí bình quân trong năm là 82%, tháng cao nhất 99%, tháng thấp nhất 69%.

- Sương mù thường xuất hiện vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Tập trung nhiều vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Số ngày có sương mù hàng năm khoảng 38 ngày.

- Sương muối thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 hàng năm. Trung bình mỗi năm có 1,3 ngày xuất hiện sương muối, năm cao nhất có 6 ngày.

- Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1700 giờ. Số giờ nắng trung bình về mùa hè là 7giờ/ ngày, mùa đồng là 5 giờ/ ngày.

- Hướng gió thiạnh hàng về mùa hè là tây nam, về mùa đông là đông bắc. Đôi khi có gió nóng (gió tây) nhưng mức độ không cao.

Thủy văn:

Hệ thống thủy văn của xã phân bố khá đều trên địa bàn, đáp ứng được các nhu cầu về sản xuất và sinh hoạt. Tuy nhiên do địa hình dốc nên về mùa khô thường gặp khó khăn trong việc cấp nước.

3. Cỏc nguồn tài nguyờn

Tài nguyên đất:

Thanh Hối có các loại đất chính sau:

- Đất nâu đỏ trên đá mác ma bazơ và trung tính: Diện tích 1.456 (chiếm 50,89 % tổng diện tích tự nhiên).

- Đất nâu đỏ trên đá vôi: Diện tích 38,26 ha (chiếm 1,44 % tổng diện tích tự nhiên).

- Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét: Diện tích 578 ha (chiếm 21,76 % tổng diện tích tự nhiên).

- Đất vàng nhạt trên đá sa thạch: Diện tích 155,14 ha (chiếm 5,84% tổng diện tích tự nhiên)

- Đất đỏ vàng và đất thung lũng dốc tụ: Diện tích 483 ha (chiếm 18,18 % tổng diện tích tự nhiên).

- Các loại đất khác: Diện tích 50 ha (chiếm 1,88 % tổng diện tích tự nhiên)

Nhìn chung các loại đất của xã Thanh Hối phần lớn là các loại đất tốt, có độ dày tương đối lớn, phù hợp với nhiều loại cây trồng. Ngoài lúa và một số loại hoa màu, hiện nay người dân địa phương đã trồng các loại cây cho hiệu quả kinh tế cao như các loại cây ăn quả, mía ....

Hiện trạng sử dụng đất của xã:

Xã có tổng diện tích tự nhiên:            2.656,11 ha, trong đó:

+ Đất nông nghiệp:                             2136,57 ha chiếm 80,44% tổng diện tích đất tựnhiên.

+ Đất phi nông nghiệp:      184,10 ha chiếm 6,93% tổng diện tích đất tự nhiên.

+ Đất chưa sử dụng:                           31,17 ha chiếm 1,17% tổng diện tích đất tự nhiên.

+ Đất khu dân cư nông thôn: 304,27 ha chiếm 11,46% tổng diện tích đất tự nhiên

Tài nguyên rừng

Rừng của xã Thanh Hối chiếm diện tích khá lớn so với tổng diện tích tự nhiên, trong đó bao gồm rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Là xó miền nỳi với địa hỡnh đa dạng, phức tạp nờn xã có nhiều loại thực phủ nhưng chủ yếu là rừng tạp, cây tán lá rộng. Rừng trồng chủ yếu là rừng bạch đàn, keo Những loại cây phục vụ cho việc chế biến sản xuất giấy và một số mặt hàng công nghiệp khác, độ che phủ trung bình từ 75 – 85%.

Động vật rừng: Do điều kiện địa hỡnh, địa chất và dạng sinh cảnh nờn đó tạo cho rừng cú nhiều động vật phong phỳ, quý hiếm. Trong những năm qua do sự tàn phỏ rừng, săn bắt bừa bói của nhõn dõn địa phương nờn đó làm thu hẹp mụi trường sống của cỏc loại động vật.

Nhỡn chung xó cú nhiều tiềm năng phỏt triển rừng và đây cũng là nguồn tài nguyên rất quan trọng của xã. Để bảo vệ và phát triển bền vững cần có sự đầu tư và quan tâm của các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương.

Khoáng sản

Trên địa bàn xã Thanh Hối có nhiều núi đá vôi là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho xây dựng, thuận tiện cho việc khai thác và vận chuyển.

Sản xuất công nghiệp hiện chưa phát triển, nhưng trong tương lai hứa hẹn nhiều tiềm năng trong việc khai thác vật liệu, phát triển công nghiệp chế biến.

Tài nguyên nhân văn.

Xã có nhiều cộng đồng dân tộc sinh sống. Cộng đồng các dân tộc trong xã với những truyền thống và bản sắc riêng đã hình thành nên nền văn hoá đa dạng, nhiều nét độc đáo. Sự đa dạng của kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gian về cơ bản vẫn được bảo tồn và lưu truyền cho đến ngày nay. Đời sống văn hoá đều được người dân quan tâm phát triển gìn giữ bản sắc văn hoá của từng làng quê.


1. Vị trí địa lý

Trung Hòa là xã miền núi thuộc huyện Tân Lạc, nằm cách huyện lỵ Tân Lạc 16 km về phía Tây Bắc.

Phía Bắc giáp xã Ngòi Hoa và xã Thung Nai của huyện Cao Phong

Phía Đông giáp giáp xã Thung Nai, huyện Cao Phong

Phía Nam giáp xã Mỹ Hòa

Phía Tây giáp xã Phú Vinh

Tổng dân số là 2.281 người, dân cư phân bố thành 06 xóm. Tổng diện tích đất tự nhiên là 3.197,24 ha.

2. Điều kiện tự nhiên

                        Địa hình:

Về địa hình xã có độ cao trung bình so với mặt nư­ớc biển là 270 mét, vị trí cao nhất của xã cao tới 768 m. Địa hình của xã có thể phân thành 3 dạng địa hình chính là núi đá, núi đất, thung lũng và thấp dần từ phía Bắc xuống phía Nam.

Địa hình có độ dốc trên 250 chiếm khoảng 77% diện tích, khoảng 7% diện tích đất có độ dốc từ 120 - 250, khoảng 6% diện tích đất có độ dốc từ 60 - 120, số còn lại là đất có độ dốc từ 00 - 60

Địa hình thung lũng có diện tích chưa đến 10% nên đất để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp hạn chế.

Nhìn chung địa hình của xã không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưng có điều kiện để phát triển chăn nuôi và trồng rừng.

                        Khí hậu:

                        Khí hậu xã Trung Hòa mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

                        - Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.833mm, phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 thường tập trung tới 85% lượng mưa trong năm). Mùa khô lượng mưa không đáng kể nên thường bị khô hạn.

                        - Nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27 - 28oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17- 19oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 10oC.

                        - Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1556 giờ. Số giờ nắng trung bình về mùa hè là 7giờ/ ngày, mùa đồng là 5 giờ/ ngày. Lượng bốc hơi trung bình là 910mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình trong năm khoảng 82%, hai h­ướng gió thịnh hành là gió Tây Nam (vào mùa hè) và gió Đông Bắc (vào mùa đông).

                        - Sương mù thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 năm sau.

                        Thủy văn

                        Nguồn nước mặt chủ yếu của xã được hình thành bởi vùng lòng hồ sông Đà và hệ thống suối Đạy, suối Thăm, suối Ban, suối Cạn, suối Thung , ngoài ra xã còn có hệ thống các khe suối nhỏ và các bai , đập phân bố khắp trong khu vực các thung lũng, hợp thủy, đây là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong xã.

                        Nguồn nước ngầm: Chưa có khảo sát cụ thể về nguồn nước ngầm của xã, nhưng qua hệ thống giếng khơi của nhân dân trong vùng thì thấy mực nước ngầm tương đối thấp, các xóm có giếng thì phải đào sâu từ 12-15 mét mới có nước.

Ngoài ra trên địa bàn có một số ao, hồ nhỏ nằm rải rác ở các xóm.

               3. Các nguồn tài nguyên

              -Tài nguyên đất: Hiện nay xã chưa có bản đồ thổ nhưỡng, các loại đất chính của xã được xác định trên bản đồ nông hóa thổ nhưỡng của huyện Tân Lạc tỷ lệ 1/50.000, gồm các loại đất chính sau:

             + Đất đồi núi biến đổi do trồng lúa nước (ký hiệu: FL), thành phần cơ giới thịt nhẹ, thích hợp trồng lúa nước.

             + Đất vàng đỏ trên đá sét (ký hiệu Fs): Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 250, tầng đất dày hoặc trung bình. Đất thích hợp khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng mới.

             + Đất vàng nhạt trên sa thạch (ký hiệu Fq). Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 200, tầng đất trung bình. Đất thích hợp cho phát triển lâm nghiệp.

             -Tài nguyên rừng: Đất rừng sản xuất có 1.121,08 ha, trong đó đất có rừng tự nhiên sản xuất có diện tích 765,39 ha, đất có rừng trồng sản xuất 80,79 ha, đất  khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất 125,88 ha, đất trồng rừng sản xuất có diện tích 149,02 ha.

            Đất rừng phòng hộ có 1.506,72 ha, trong đó đất có rừng tự nhiên phòng hộ có diện tích 1251,64 ha, đất có rừng trồng phòng hộ 95,27 ha, đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ 57,52 ha, đất trồng rừng phòng hộ có diện tích 102,29 ha.

            Tuy diện tích rừng lớn, nhưng rừng ở đây có độ che  phủ thấp khoảng 46%, cây to hầu như không còn. Động vật rừng hầu như không còn.

            -Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện thấy có loại tài nguyên khoáng sản có giá trị kinh tế nào.

            -Tài nguyên nhân văn: Xã Trung Hòa là cái nôi của văn hóa khu vực Mường Bi, có trên 99% dân số là dân tộc Mường, do vậy phong tục tập quán của nhân dân trong xã mang đậm bản sắc văn hóa Mường, hàng năm cùng với các xã khác trong huyện các hoạt động văn hóa truyền thống được tổ chức, nhằm giữ gìn, khơi dậy và phát triển bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình.

            Hiện trạng sử dụng đất

Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là:     3.197,24 ha, trong đó:

- Đất nông nghiệp:             2.869,39 ha, chiếm 89,75% tổng diện tích tự nhiên

- Đất phi nông nghiệp:      218,23 ha, chiếm 6,83% tổng diện tích tự nhiên

- Đất chưa sử dụng:    26,03 ha, chiếm  0,81% tổng diện tích tự nhiên

- Đất ở khu dân cư NT:   83,59 ha, chiếm 2,61% tổng diện tích tự nhiên

* Đánh giá sơ bộ về tiềm năng phát triển:

- Về đất rừng: Xã có diện tích đất rừng khá lớn với 2627,8 ha chiếm khoảng 91,6% diện tích đất nông nghiệp, đây là tiềm năng lớn của xã trong việc phát triển sản xuất lâm nghiệp.

- Về tài nguyên đất: Đất sản xuất nông nghiệp (239 ha) của xã phần lớn có địa hình tương đối bằng phẳng và thuận lợi trong việc canh tác, thâm canh tăng vụ và phát triển đa dạng cây trồng tạo sản phẩm hàng hóa cho vùng.


1. Vị trí địa lý

Tử Nê là xã vùng thấp của huyện Tân Lạc, nằm về phía Đông-Nam huyện và cách thị trấn huyện khoảng 5 km về phía Tây-Bắc theo quốc lộ 12B. Ranh giới của xã như sau:

- Phía Bắc giáp xã Mãn Đức huyện Tân lạc.

- Phía Đông giáp huyện Cao Phong.

- Phía Nam giáp xã Thanh Hối

- Phía Tây giáp xã Do Nhân, Lỗ Sơn huyện Tân lạc,

Xã Tử Nê có tổng diện tích tự nhiên 1705,61 ha và được chia thành 7 xóm. Dân số của xã gồm 966 hộ và 4051 khẩu với các dân tộc Kinh 1522 khẩu, Mường 2522 khẩu và Thái 7 khẩu. Xã có quốc lộ 12B chạy qua nối xã với trung tâm huyện và với bên ngoài rất thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế và văn hoá xã hội. Dân số xã Tử Nê phân bố không đồng đều, hiện nay dân cư bố trí thành 7 xóm với 966 hộ và 4.051 khẩu, bao gồm 3 dân tộc chính:

+ Dân tộc Kinh:          1.522 người, chiếm 22,24%

+ Dân tộc Mường:      2.522 người, chiếm 77,52%

+ Dân tộc Thái:                   7 người, chiếm   0,24%

2. Điều kiện tự nhiên

Địa hình:

Xã Tử Nê nằm trong vùng có địa hình đồi núi thấp với địa hình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bới các khe suối và đồi núi cao. Địa hình của xã có thế chia thành 2 dạng địa hình chính:

- Địa hình đồi núi dốc và cao: Tập trung chủ yếu ở phía Đông Băc và Tây Nam của xã. Dạng địa hình này tương đối dốc, hiện trong vùng là rừng sản xuất, rừng phòng hộ của dân địa phương.

- Địa hình thung lũng: Phân bố chủ yếu ở khu vực trung tâm xã dọc hai bên quốc lộ 12B. Dạng địa hình này tương đối bằng phẳng và là vùng sản xuất chính của người dân để trồng lúa và các loại cây hàng năm, lâu năm khác. Đây cũng là vùng tập trung dân cư và sản xuất chính của xã.

Nhìn chung địa hình của xã có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp với việc phát triển đa dạng cây trồng và các hình thức nông nghiệp khác.

Khí hậu:

Khí hậu xã Tử Nê mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

- Nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27 - 28oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17- 19oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 10oC.

- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.750mm, phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 thường tập trung tới 85% lượng mưa trong năm). Mùa khô lượng mưa không đáng kể nên thường bị khô hạn. Tổng số ngày mưa trong năm khoảng 120 ngày, tập trung vào từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm.

- Lượng bốc hơi bình quân hàng năm khoảng 500-700 mm. Năm cao là 850 mm và năm thấp là 450 mm.

- Độ ẩm không khí bình quân trong năm là 82%, tháng cao nhất 99%, tháng thấp nhất 69%.

- Sương mù thường xuất hiện vào tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Tập trung nhiều vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Số ngày có sương mù hàng năm khoảng 38 ngày.

- Sương muối thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 hàng năm. Trung bình mỗi năm có 1,3 ngày xuất hiện sương muối, năm cao nhất có 6 ngày.

- Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1700 giờ. Số giờ nắng trung bình về mùa hè là 7giờ/ ngày, mùa đồng là 5 giờ/ ngày.

- Hướng gió thịnh hành về mùa hè là Tây Nam, về mùa đông là Đông Bắc. Đôi khi có gió nóng (gió Tây) nhưng mức độ không cao.

Thủy văn:

Hệ thống thủy văn của xã phân bố khá đều trên địa bàn, trong đó có suối Bin là suối lớn và quan trọng nhất, bắt nguồn từ xã Trung Hoà, đoạn qua xã dài khoảng 5 km. Ngoài ra trong xã còn có một số suối nhánh và hồ chứa nước khác. Nhìn chung hệ thống thuỷ văn của xã khá thuận lợi cho sản xuất và đời sống. Tuy nhiên về mùa khô lưu lượng còn bị hạn chế.

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã Tử Nê trữ lượng khoáng sản rất ít hầu như không có.

Sản xuất công nghiệp hiện chưa phát triển, nhưng trong tương lai hứa hẹn nhiều tiềm năng trong việc khai thác vật liệu, phát triển công nghiệp chế biến.

Hiện trạng sử dụng đất

Xã có tổng diện tích tự nhiên:            1.705,61 ha, trong đó:

+ Diện tích đất nông nghiệp: 1.428,34 ha                                                  

+ Đất phi nông nghiệp:                            97,26 ha

+ Đất khu dân cư nông thôn:    172,77 ha

+ Đất chưa sử dụng:                      7,24 ha


1. Vị trí địa lý

Tuân Lộ là xã nằm trên trục đường QL-6 nối từ ngã ba Mãn Đức đi Mai Châu, cách Thị trấn huyện lỵ Tân Lạc 6km về phía Tây Bắc. Xã có tọa độ địa lý vào khoảng 20035’-20039’độ Vĩ Bắc và 105016’-105021’ độ Kinh Đông, ranh giới như sau:

 Phía Bắc giáp xã Mỹ Hòa

 Phía Nam giáp xã Do Nhân

 Phía Đông giáp xã Quy Hậu, Mãn Đức

 Phía Tây giáp xã Phong Phú, Địch Giáo.

Dân cư của xã Tuân Lộ được bố trí tại 7 xóm với tổng số 601 hộ và 2.554 nhân khẩu, gồm có 2 dân tộc cùng sinh sống, trong đó:

+ Dân tộc Kinh:                   519 ng­ười, chiếm 20,50%

+ Dân tộc Mường:                  2.031 ng­ười, chiếm 79,50%

Hiện nay toàn xã có số lao động trong độ tuổi là 1.553 ngư­ời, chiếm 66% dân số, trong đó lao động nam chiếm 51,7%, lao động nữ chiếm 48,3%. Lao động trong xã chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp với 1.439 người, chiếm 92,66% tổng số lao động.

2. Các điều kiện tự nhiên

Địa hình

Về địa hình, xã có đặc điểm địa hình miền núi phức tạp, đất đai của xã bị chia cắt nhiều bởi hệ thống khe suối và đồi núi cao. Độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng 220m - 250m, nơi cao nhất là 458m với đặc thù địa hình đồi núi cao ở phía đông bắc, thấp dần về phía tây nơi có các thung lũng và các cánh đồng khá bằng phẳng.

Khí hậu thời tiết

Về khí hậu, xã nằm trong vùng khí hậu  nhiệt đới gió mùa, một năm có 2 mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô). Nhiệt độ bình quân trong năm là 22,90C, nhiệt độ tháng cao nhất là 33,80C, nhiệt độ tháng thấp nhất là 10,80C, tháng 6 là tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất là tháng 1. Nhiệt độ giữa các vùng cũng khác nhau, ở vùng cao thì nhiệt độ các tháng lạnh thì thấp hơn các vùng thấp từ 2-30C, mùa đông cũng đến sớm và kết thúc muộn hơn. Độ ẩm không khí bình quân các tháng trong năm là 82%, tháng cao nhất là 99%, tháng thấp nhất là 69%, độ ẩm cao nhất rơi vào các tháng cuối xuân đầu hè và thấp nhất vào những tháng mùa đông. Hiện tượng sương muối cũng xuất hiện tuy không nhiều, trung bình mỗi năm từ 1-6 ngày chủ yếu vào tháng 12 và tháng 1.

Chế độ mưa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 trong năm, lượng mưa bình quân trong năm là 1900 – 2100 mm, thấp nhất là 1700 mm. Tổng số ngày mưa trong năm khoảng 115 ngày, mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng 10. Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 10 – 15% tổng lượng mưa cả năm.

Lượng bốc hơi nước: bình quân trong năm là 618,4mm, năm cao là 819,6mm, năm thấp nhất là 442,8 mm.

Độ ẩm không khí: Độ ẩm bình quân các tháng trong năm là 82%, tháng cao nhất là 99%, tháng thấp nhất là 69%, độ ẩm thường cao vào các tháng cuối xuân đầu hè và thấp nhất vào những tháng mùa đông.

Sương mù và sương muối: Sương mù thường xuất hiện ở đây vào khoảng tháng 11 đến tháng 3 năm sau, tập trung nhiều vào tháng 12 đến tháng 2. Mỗi năm có trung bình 1- 3 ngày xuất hiện sương muối, năm cao nhất là 6 ngày. Sương muối xuất hiện chủ yếu vào tháng 12 và tháng 1 hàng năm. Sương mù và sương muối gây ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cây trồng.

Gió bão: gió thịnh hành thường thay đổi theo 2 hướng: hướng tây nam vào mùa hè và đông bắc vào mùa đông. Gió đông bắc kèm theo không khí lạnh, khô, thỉnh thoảng xuất hiện mưa phùn.

3. Các nguồn tài nguyên :

Tài nguyên nước

- Nước mặt: Nguồn nước mặt chủ yếu của xã được hình thành bởi hệ thống các suối và các khe nước chảy ra từ vùng đồi núi cao cũng như còn có hơn 10 hồ chứa nước lớn nhỏ phân bố khắp xã, đây là nguồn nước chủ yếu tập trung cho sản xuất và sinh hoạt. Suối chính là suối Lớn, thượng nguồn của suối này bắt nguồn từ các xã vùng cao chảy qua Do Nhân rồi đi qua xã với chiều dài khoảng 3km, lượng nước khá nhiều và chảy quanh năm. Ngoài ra xã còn có hơn 10 hồ lớn nhỏ và các bai đập hàng năm giữ và cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã.

- Nước ngầm: Qua khai thác hệ thống giếng khơi cho thấy nước mạch tương đối giàu, đặc biệt hệ thống nước mạch trong xã có lưu lượng và chất lượng khá, trong các xóm hiện nay các giếng chỉ đào sâu từ 10 – 15m là có nước.

Tài nguyên đất

Tổng diện tích tự nhiên của xã là 857,99 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 189,44 ha, chiếm 22,08%.

Đất đai của xã chủ yếu được chia thành 2 nhóm chính đất đồi núi, núi đá và đất đồng ruộng với thành phần chủ yếu là: đất nâu đỏ trên đá macma bazo và trung tính, đất đỉ vàng trên phiến thạch sét, đất nâu đỏ trên đá vôi, đất đỏ vàng và đất thung lũng tích tụ.

Tài nguyên rừng

Toàn xã có 489,93 ha rừng, chiếm 57,1% diện tích tự nhiên, trong đó có 398,15 ha rừng sản xuất và 91,78 ha rừng phòng hộ. Rừng nguyên sinh còn ít, chủ yếu là các loại keo, bạch đàn, mít.., động vật rừng chỉ còn các loại nhỏ như chồn, cầy, cáo...

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã hiện chưa phát hiện được loại khoáng sản nào có giá trị kinh tế cao ngoài đá xây dựng.

Tài nguyên nhân văn

Trên địa bàn xã có 2 dân tộc anh em cùng sinh sống là dân tộc Mường chiếm 79,5% và dân tộc Kinh chiếm 20,5%. Phong tục tập quán của nhân dân trong xã mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc Mường với nhiều nét dẹp truyền thống được thể hiện qua sự sinh hoạt hàng ngày của người dân trong xã:

- Văn hóa vật chất: Đó là sự thể hiện ở nhà cửa, vùng quần cư, y phục, ăn uống, tư liệu sản xuất và tập quán canh tác.

- Văn hóa xã hội: Thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc ở Tuân Lộ không tách khỏi những nét đặc trưng cơ bản của các dân tộc vùng Hòa Bình nói chung, đó là thiết chế xóm bản của người Mường.

- Văn hóa tinh thần: Bao gồm rất nhiều lĩnh vực cấu thành thượng tầng kiến trúc từ phong tục tập quán đến các hoạt động văn hóa, thể thao...

Cảnh quan môi trường

Địa hình đa dạng,đồi núi, thung lũng xen kẽ  tạo ra cảnh quan đặc trưng của một vùng núi Tây Bắc Việt Nam. Môi trường thiên nhiên khá tốt do có thảm thực vật đa dạng và không gần nguồn gây ô nhiễm. Tuy nhiên trong những năm trước đây diện tích rừng giảm nhanh cũng làm ảnh hưởng xấu tới môi trường. Đất đai thời gian vừa qua do tác động của dòng chảy nên bị xói mòn khá nhanh, đây là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng đất đai bị trơ sỏi đá.


1. Vị trí địa lý

Phú Cường là xã Miền núi thuộc huyện Tân Lạc, cách huyện lỵ khoảng 20 km về phía Tây Bắc.

Phía Bắc giáp huyện Mai Châu.

            Phía Nam giáp xã Quyết Chiến và xã Địch Giáo.

            Phía Đông giáp xã Phú Vinh và xã Phong Phú.

            Phía Tây giáp huyện Mai Châu.

Tổng dân số là 6.755 người, dân cư phân bố thành 19 xóm. Tổng diện tích đất tự nhiên là 3.763,57 ha.

                        2. Các điều kiện tự nhiên

                        Địa hình:

Phú Cường là xã miền núi có địa hình phức tạp, đồi núi được xen kẽ, chia cắt bởi các con suối và đồi núi cao. Độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng 220 đến 250m, nơi cao nhất là 458m. Địa hình xã cao ở phía Đông Bắc tạo ra các cánh đồng bằng phẳng ở phía Tây.

Nhìn chung địa hình của xã rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp với việc phát triển đa dạng cây trồng và các hình thức nông lâm nghiệp khác.

                        Khí hậu:

Khí hậu xã Phú Cường mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

                        - Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.833mm, phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 thường tập trung tới 85% lượng mưa trong năm). Mùa khô lượng mưa không đáng kể nên thường bị khô hạn.

                        - Nhiệt độ trung bình năm từ 23oC - 24oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27oC - 28oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17oC- 19oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 10oC.

                        - Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1556 giờ. Số giờ nắng trung bình về mùa hè là 7giờ/ngày, mùa đồng là 5giờ/ngày. Lượng bốc hơi trung bình là 910mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình trong năm khoảng 82%, hai h­ướng gió thịnh hành là gió Tây Nam (vào mùa hè) và gió Đông Bắc (vào mùa đông).

                        - Sương mù thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 năm sau.

                        Thủy văn

Trên địa bàn xã chỉ có nhiều con suối nhỏ ở xóm Bát, xóm Báy 1, Báy 2 và xóm Bái, về mùa khô nguồn nước hạn chế,  rất khó khăn trong việc cung cấp nước cho đời sống, sinh hoạt và sản xuất.

Ngoài ra trên địa bàn có hồ Trọng và một số ao, hồ nhỏ nằm rải rác ở các xóm.

                        4. Các nguồn tài nguyên

                        -Tài nguyên đất: Hiện nay xã chưa có bản đồ thổ nhưỡng, các loại đất chính của xã được xác định trên bản đồ nông hóa thổ nhưỡng của huyện Tân Lạc tỷ lệ 1/50.000, gồm các loại đất chính sau:

            + Đất đồi núi biến đổi do trồng lúa nước (ký hiệu: FL), thành phần cơ giới thịt nhẹ, thích hợp trồng lúa nước.

            + Đất vàng đỏ trên đá sét (ký hiệu Fs): Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 250, tầng đất dày hoặc trung bình. Đất thích hợp khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng mới.

            + Đất vàng nhạt trên sa thạch (ký hiệu Fq). Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 200, tầng đất trung bình. Đất thích hợp cho phát triển lâm nghiệp.

            -Tài nguyên rừng: Đất rừng tự nhiên phòng hộ có diện tích 1.089,36 ha, đất rừng tự nhiên sản xuất có diện tích 406,81 ha, đất có rừng trồng phòng hộ 11,7 ha và đất có rừng trồng sản xuất có diện tích 60,18 ha. Khu rừng tự nhiên phòng hộ còn một số ít loại cây thân gỗ to. Động vật rừng hầu như không có.

            -Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện thấy có loại tài nguyên khoáng sản có giá trị kinh tế nào.

            -Tài nguyên nhân văn: Xã Phú Cường là cái nôi của văn hóa khu vực Mường Bi, có trên 96% dân số là dân tộc Mường, do vậy phong tục tập quán của nhân dân trong xã mang đậm bản sắc văn hóa Mường, hàng năm cùng với các xã khác trong huyện các hoạt động văn hóa truyền thống được tổ chức nhằm giữ gìn, khơi dậy và phát triển bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình.

Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là:     3.763,57 ha.


1. Vị trí địa lý

Phú Vinh là xã Miền núi thuộc huyện Tân Lạc, cách huyện lỵ khoảng 20 km về phía Tây Bắc.

Phía Bắc giáp với xã Ngòi Hoa, Ba Khan của huyện Mai Châu;

Phía Đông giáp xã Trug Hòa;

Phía Nam giáp xã Mỹ Hòa, Phong Phú;

Phía Tây giáp xã Phú Cường.

Tổng dân số là 3.752 người, dân cư phân bố thành 12 xóm. Tổng diện tích đất tự nhiên là 3.656,15 ha.

                        2. Các điều kiện tự nhiên

                        * Địa hình:

Về địa hình xã có độ cao trung bình so với mặt nư­ớc biển là 260-300 mét, vị trí cao nhất của xã cao tới trên 760 m. Địa hình của xã có dáng địa hình đồi núi xen kẽ thung lũng và thấp dần về phía Nam.

Địa hình đất đai của xã được chia thành 2 vùng cơ bản:

- Vùng cao là vùng đồi núi chủ yếu là nằm ở phía Bắc và phía Đông Nam, địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi cao liên tiếp có độ dốc lớn xen giữa các thung lũng nhỏ.

- Vùng thấp là vùng nằm ở hai bên của dãy núi cao, đây là thung lũng rộng và tương đối bằng phẳng là khu vực sản xuất và sinh sống chính của nhân dân xã Phú Vinh. Độ cao trung bình của vùng này khoảng 180-250m.

Địa hình đất đai có đồi núi cao với độ dốc trên 25o chiếm khoảng 65% diện tích, vùng đất có độ dốc từ 12o-25o chiếm khoảng 10% diện tích, vùng đất có độ dốc từ 6o-12o chiếm khoảng 8% diện tích và số đất còn lại có độ dốc từ 0o-6o.

Nhìn chung địa hình của xã rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp với việc phát triển đa dạng cây trồng và các hình thức nông lâm nghiệp khác.

                        Khí hậu:

Khí hậu xã Phú Vinh mang đặc điểm chung của miền khí hậu nhiệt đới, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

            - Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.833mm, phân bố không đều trong năm mà chủ yếu tập trung trong mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 thường tập trung tới 85% lượng mưa trong năm). Mùa khô lượng mưa không đáng kể nên thường bị khô hạn.

            - Nhiệt độ trung bình năm từ 23oC - 24oC, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27oC - 28oC, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17oC- 19oC, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 10oC.

            - Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1556 giờ. Số giờ nắng trung bình về mùa hè là 7giờ/ngày, mùa đồng là 5giờ/ngày. Lượng bốc hơi trung bình là 910mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình trong năm khoảng 82%, hai h­ướng gió thịnh hành là gió Tây Nam (vào mùa hè) và gió Đông Bắc (vào mùa đông).

            - Sương mù thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 năm sau.

            Thủy văn

            Trên địa bàn xã chỉ có một số con suối nhỏ ở xóm Bò, xóm Cuôi, xóm Láo, về mùa khô nguồn nước rất hạn chế rất khó khăn trong việc cung cấp nước cho đời sống, sinh hoạt và sản xuất.

            Ngoài ra trên địa bàn có hồ Trọng, hồ Giác và một số ao, hồ nhỏ nằm rải rác ở các xóm.

     

            4. Các nguồn tài nguyên

     -Tài nguyên đất: Hiện nay xã chưa có bản đồ thổ nhưỡng, các loại đất chính của xã được xác định trên bản đồ nông hóa thổ nhưỡng của huyện Tân Lạc tỷ lệ 1/50.000, gồm các loại đất chính sau:

            + Đất đồi núi biến đổi do trồng lúa nước (ký hiệu: FL), thành phần cơ giới thịt nhẹ, thích hợp trồng lúa nước.

            + Đất vàng đỏ trên đá sét (ký hiệu Fs): Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 250, tầng đất dày hoặc trung bình. Đất thích hợp khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng mới.

                + Đất vàng nhạt trên sa thạch (ký hiệu Fq). Phần lớn diện tích có độ dốc lớn hơn 200, tầng đất trung bình. Đất thích hợp cho phát triển lâm nghiệp.

         -Tài nguyên rừng: Đất rừng tự nhiên phòng hộ có diện tích 1.194 ha, đất rừng tự nhiên sản xuất có diện tích 469 ha, đất có rừng trồng phòng hộ và sản xuất có diện tích: 108 ha. Khu rừng tự nhiên phòng hộ còn một số ít loại cây thân gỗ to. Động vật rừng hầu như không có.

       -Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện thấy có loại tài nguyên khoáng sản có giá trị kinh tế nào.

       -Tài nguyên nhân văn: Xã Phú Vinh là cái nôi của văn hóa khu vực Mường Bi, có trên 99% dân số là dân tộc Mường, do vậy phong tục tập quán của nhân dân trong xã mang đậm bản sắc văn hóa Mường, hàng năm cùng với các xã khác trong huyện các hoạt động văn hóa truyền thống được tổ chức nhằm giữ gìn, khơi dậy và phát triển bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình.

Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là:     3.656,15 ha, trong đó:

- Đất nông nghiệp:             3.276,28 ha, chiếm 89,61% tổng diện tích tự nhiên

- Đất phi nông nghiệp:      102,05 ha, chiếm 2,79% tổng diện tích tự nhiên

- Đất chưa sử dụng:    45,37 ha, chiếm  1,24% tổng diện tích tự nhiên

- Đất ở khu dân cư NT:     232,45 ha, chiếm 6,36% tổng diện tích tự nhiên.


           Thị trấn Mường Khến là trung tâm Chính trị - Kinh tế - Văn hoá xã hội của huyện Tân Lạc đ­ợc thành lập ngày 19 tháng 3 năm 1988 theo Quyết định số: 49/QĐ - HĐBT (Hội đồng bộ tr­ởng) nay là Chính Phủ với diện tích tự nhiên 408,72 km2. Phía Nam và Phía tây giáp xã Mãn Đức; Phía Đông, phía Bắc giáp xã Quy Hậu. Dân số 1.194 hộ 4.728 nhân khẩu có 6 dân tộc anh em cùng chung sống, địa bàn thị trấn có 2 tuyến đ­ờng quốc lộ 6 và 12B đi qua, giao nhau tại ngã ba thị trấn M­ờng Khến và có các cơ quan của trung ­ơng, địa ph­ơng đóng chân trên địa bàn, địa bàn đ­ợc phân chia thành 8 khu dân c­ nằm dọc theo 2 tuyến quốc lộ. đặc điểm địa bàn có nhiều thành phần kinh tế khác nhau tạo cho thị trấn có nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế xã hội,  đảm bảo quốc phòng an ninh.

 

            Tăng tr­ởng kinh tế 12%. Tổng giá trị sản xuất đạt 70,6 tỷ, thu nhập bình quân đầu ng­ời đạt 24,2 triệu đồng (2013), phấn đấu năm 2014 tổng giá trị sản xuất đạt 81 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu ng­ời đạt trên 26 triệu đồng.

 

            Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 4,38%. Tỷ lệ hộ cận nghèo chiếm 2,98%.

 

Giáo dục: năm học 2013-2014 tỷ lệ lên lớp, chuyển cấp bậc Tiểu học đạt 100%, tỷ lệ học sinh THCS chuyển lớp đạt 99%, chuyển cấp đạt 98%. Không có học sinh bỏ học. Trong 4 tr­ờng học có 3 tr­ờng đạt chuẩn tr­ờng quẩn quốc gia. Đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc THCS, Tiểu học và giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi.

 

            Thực hiện tốt các ch­ơng trình mục tiêu quốc gia về y tế, chính sách dân số và KHHGĐ.

 

            Công tác quốc phòng - Quân sự địa ph­ơng và công tác an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn đ­ợc giữ vững ổn định; triển khai tốt các mô hình khu tự quản và khu an toàn về ANTT. 

 

            * Về công tác cán bộ: thị trấn bố trí 21 biên chế, trong đó 11 cán bộ chuyên trách và 11 công chức. Về số l­ợng cán bộ y tế cơ sở đ­ợc bố trí 5 biên chế. Dân số và KHHGĐ đ­ợc bố trí 1 biên chế, đảm bảo đủ chỉ tiêu biên chế hành chính, sự nghiệp theo quy định.

 

            Số l­ợng cán bộ không chuyên trách thị trấn theo Quyết định số 1544/QĐ-UBND ngày 15/9/2010 của UBND tỉnh Hoà Bình là 12 ng­ời, ở khu dân c­ là 3 ng­ời/khu gồm: Bí th­ Chi bộ, Tr­ởng khu, Công an viên.

Cán bộ hợp đồng ở xã, thị trấn là 3 ng­ời (KN-KL, Thú y, Kiểm lâm viên).

Nội dung đang cập nhật.....

Du-lich-hb 123

Văn bản mới

Quyết định về việc thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng an ninh tỉnh HB


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Quyết định về việc thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng an ninh tỉnh HB


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Quyết định về việc thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng an ninh tỉnh HB


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Quyết định về việc thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng an ninh tỉnh HB


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Quyết định về việc thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng an ninh tỉnh HB


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Quyết định về việc thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng an ninh tỉnh HB


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Quyết định về việc thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng an ninh tỉnh HB


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014


Quyết định về việc thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng an ninh tỉnh HB


Chỉ thị về tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách những tháng cuối năm 2014



Thi hanh hien phap 2013 copy

baner-ma-tuy 
 PHONGCHONGBAOLUC
Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction